Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

Hoàng Hưng dục tính thô lậu đến vô lối, tắc tỵ


              
HOÀNG HƯNG
Từ thô lậu, bệnh hoạn  đến vô lối, tắc tỵ
                    Đỗ Hoàng
         Văn đoàn Độc lập khi mới là Ban vận động thành lập có nhiều người kỳ vọng. Bởi vì người ta chán ngán cái " Hội Nhà văn Mậu dịch" do Nhà nước trấn thuế của dân cấp cho hoạt động dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lãnh đạo Hội Nhà văn Mậu dịch thao túng toàn phần lấy tiền trên cho đặc quyền ban phát, ban ơn đám cánh hẩu. Hai ba chục năm tặng thưởng hàng trăm tác phẩm không có lấy một tác phẩm nào gọi là có chút  văn chương.
  Văn đoàn Độc lập ra đời, Nguyên Ngọc trùm Văn nô làm chủ xị;  tờ báo mạng Văn Việt hoạt động do cựu tù Hoàng Hưng cầm chịch. Chuẩn bị vỗ tay"Văn chương Việt Nam khởỉ sắc"!
    Từ đây sẽ có tiếng nói trung thực bảo vệ văn chương muôn đời của dân tôc và của nhân loại. Đám văn tặc phá nát truyền thống văn chương được các cơ quan công quyền bảo vệ Văn nô cho chúng tác oai, tác quái trên văn đàn như : Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Quang Thiều, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Khoa Điềm,  Phú Trạm Inrrasara, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Mã Giang Lân, Hoàng Vũ Thuật, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị Như Thúy, Mai Quỳnh Nam, Trần Hùng ...sẽ bị loại ra khỏi lịch sử văn học nước nhà; đám bốc thơm như: Phong Lê,  Lê Thành Nghị,Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Quần Phương, Lê Hồ Quang, Đỗ Lai Thúy,  Nguyễn Ngọc Phú...cũng không còn đất sống!
   Nhưng ôi thôi, thôi! Nó lại chuyên quyền độc đoán, bè phái, cánh hẩu, ngu trí, ngu dân, làm băng hoại văn chương trong  sáng của cha ông  hơn mấy tờ báo Văn nô do Văn nô Hữu Thỉnh đứng đầu! Nó ủng hộ, lăng xê cho đám phá hoại Văn chương Việt, Văn chương nhân loại muôn đời bằng cách trao giải cho đám thân tín lục lâm đứng đầu là Hoàng Hưng! Hoàng Hưng - một người làm thơ từ từ đến thô lậu, bệnh hoạn, vô lối, tắc tỵ. Hoàng Hưng ẳm giải nhiều như Hữu Thỉnh ẳm giải Văn nô!
  Hoàng Hưng tên thật Hoàng Thụy Hưng sinh năm 1942, quê  Hải Dương, tốt nghiệp Đại học Sư phạm năm 1965. Sau đó làm bảo "Người giáo viên nhân dân " (Báo Giáo dục & Thời đại ). Năm 1982 bị tù do truyền bá thơ Hoàng Cầm. Lúc này, Hoàng Hưng đã có ra tập thơ "Đất nắng" in chung với Trang Nghị - thơ loại "Mẹ tập con đi, Đãng dạy con đi", không một ai hay biết, không một tiếng tăm. Thơ Hoàng Hưng thời kỳ này cũng đậm chất tuyên truyền, ca ngợi người ra trận, xút chó bụi xờm, còn mình trốn hầm tránh máy bay tại Hà Nội.
Gửi anh     
Anh đi rồi em nằm giữa đêm sâu
Nghe cành nhãn quệt lá vào cửa sổ
Buồng bên cạnh ba cũng chừng chưa ngủ
Thao thức mùi khói thuốc bay sang.

Mấy anh em xa nhà, vẫn thương anh nhất
Cũng tự hào trước nhất vì anh
Khi đất nước đang sục sôi đánh giặc
Anh ở tiền phương thay mặt gia đình.

Cách xa anh một tháng đường thư
Em thường dõi hướng anh đoán chừng chiến trận …

Bỗng hôm nay đột ngột anh về
Ba gỡ kính ra lau, ngón tay già run mãi
Anh cởi chiếc ba lô đầy cát bụi
Mắt tìm chiếc ghế thân quen.

Em nhìn anh thương từ mỗi dáng đi
Mỗi chiếc lá mang về từ tiền tuyến
Công tác gấp, ghé thăm nhà vài tiếng
Đủ thì giờ kể ít chuyện nhà nghe

Trong chuyện anh có bao nhiêu hình ảnhNhững pháo thủ tân binh, những bà mẹ anh hùng
Em cảm thấy đằng sau bao chuyện
Một cái gì hơn những chiến công.

Không kịp ngả lưng trên giường tuổi nhỏ
Anh lại ra đi. Các đồng chí đang chờ
Em một mình nằm nhớ những ngày xưa
Lại hối lúc gần chưa biết thương nhau nhiều nữa
Mẹ không còn để gói cho anh nắm cơm nếp đỗ
Vụng về em giã tạm cối vừng
Anh đi rồi mùi thơm mãi bâng khuâng.

7-1965

Người ta biết đến Hoàng Hưng là do bị tù Cách mạng.
 Đi tù ra, Hoàng Hưng có một số  tác phẩm được bạn văn chú ý: "Hãy để mùa hè yên nghỉ" - Phú Quang phổ nhạc
Hãy để mùa hè yên nghỉ
"Đường phố hôm nay mùa đông
Sao áo em mùa hạ?

Những sọc áo xanh cuộn sóng
Em mang trên ngực biển đầy

Biển những ngày hè đẹp lắm
Ngày nào tìm biển ta say

Nhưng mùa hạ đã ra đi
Chân trời xa không ngấn nắng

Sao em còn mang áo mỏng
Có còn mùa hạ nữa đâu

Sao em làm lòng ta đau
Nhớ ngọn lửa hè đã tắt

Chắc biển ngoài kia cũng xám
Lạnh co những sóng rộng dài

Ngực em cao làm tức ngực
Hãy chôn dưới lớp áo dầy

Đường phố hôm nay mùa đông
Hãy để mùa hè yên nghỉ."

, "Người đi tìm mặt"
(trích)
... đuốc lên
Cho ta đi tìm!
Đốt đuốc lang thang
Bàn chân bụi đất
Đốt đuốc tốc độ
Cháy vòng bánh xe
Đốt đuốc ái tình từng chiếc hôn đắm say hờ hững
Đốt đuốc nhịp điệu
Đất trời loảng xoảng nghịch âm
Đốt đuốc sắc màu
Cuộn quặn mặt trời Van Gogh
Đốt đuốc từ ngữ
Thơ tìm giúp mặt thơ ơi!
Mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt

Ta đói mặt người ta khát mặt ta
Ta vọng mặt em mặt em ở đâu?

Tất cả chỉ còn hoang vắng
Tất cả chỉ còn mệt mề
Tất cả qua đi
Trên mặt kính tàu
Đi thôi
Tàu ơi
Gió, cát đuổi theo để vẽ mặt ta
Đi thôi đi thôi
Đi tạc mặt vào đêm
Hút hút.

HN 1973

" Không đề  I,II, III".

Không đề II

Em ơi đừng mặc áo vàng.
Em mặc áo vàng
Biển động, sóng trào dữ dội.

Em ơi đừng mặc áo trắng.
Em mặc áo trắng
Sóng quật mình tung đá ghềnh.

Em ơi đừng mặc áo đỏ tươi.
Em mặc áo đỏ tươi
Sóng đổ nhào, biển động mãi không thôi.
 Các bài đổi mới này được kế thừa trên nền tảng truyền thống dân tộc. Sau đó Hoàng Hưng vẫn viết truyền thống nhưng vô cùng thô lậu, bẩn thỉu, bần tiện:
"Bạn giờ giao hợp nới đâu
Hay về gác cũ khắc màu đung đưa"
(Ngựa biển)
Tường
Vắng
Khe
Lông..."
(Ngựa biển)
 Viết bẩn thỉu hơn văn học Sài Gòn thời tạm bị chiếm:
"Nghe trong thân thể mê cuồng
Từng cơn nước xoáy thẹn thùng thịt da"
Hay:
"Con gà quay
Con gà quay
Cởi quần
Chửi thề!"...
Dục tính thô lậu,bẩn thỉu, trâng tráo
hơn cả thơ Apollinaire mà Hoàng Hưng dịch:
"La boucle des cheveux  noirs de ta nuque es mon tresor
Ma pensée te rejoint et la tienne la croise
Tes seins sont les senls obus que j'aime
Ton souvenir est la lage de repérage qui nous sert à pointer la nuit

En voyant la large croupe de mon cheval j'aipensé  à tes hanchecs"
(Fu sée)
(Lọn tóc đen trên gáy em là kho báu của anh
Ý nghĩ anh về với em váy nghĩ em gặp ý nghĩ anh
Cặp vú em là những quả đạn duy nhất anh yêu
Kỷ niệm em là cây đèn định vị giúp các anh ban đêm hướng súng

Nhìn cái hông con ngựa của minhfanhnghix tới hông em...)
(Hỏa châu) - Hoàng Hưng dịch

     Và khi cầm chịt tờ Văn Việt được hải ngoại bốc thơm, Hoàng Hưng ngày càng sa đà vào lồi viết bệnh hoạn, tắc tỵ vô lối, ăn cắp hình thức của thơ Anh, thơ Pháp cổ lổ sỉ...  kiểu đám Vô lối Văn nô, vô lối  Mậu dịch như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Văn Ngăn, Mai Văn  Phấn, Phú Trạm Inrasara, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Vũ Thuật, Trần Hùng, Mai Quỳnh Nam,...tác oai, tác quái như:
“Đờm, dãi, thịt da tinh khí phì phào, thu hút mãi không thôi cọ sát. Chìm đắm giạt trôi, trôi đâm, đánh bắt, ngũ nhạc lừ lừ, lửa càn rần rật, thần thức nương gió đọa, nước sinh ròng rã, trùng trùng giao kết căn duyên” (“thơ” Hoàng Hưng)
"Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố.” (Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay". ( thơ Hoàng Hưng)
Thơ Hoàng Hưng viết 30 năm nay, được lấy ra làm mẫu mực cho thơ “Văn Đoàn độc lập”
Viết đến như thế thì thối  hơn cả phân gio hố xí đem vung vải  trên văn đàn vốn bị đám vô lối Mậu dịch ,văn nô làm ô uế gần nửa thế  kỷ nay!

 Sự ra đời của Văn đoàn Độc lập và hoạt động của báo mạng Văn Việt - Tiếng nói của Văn đoàn Độc lập không đem đến một giả trị gì Văn chương cho cộng đồng mà nó lại gây tác hại vô cùng to lớn không lường được cho nhân quần. Nhân dân nên loại  bỏ nó ra khỏi đời sống văn học nghệ thuật nước nhà!

                                        Hà Nội, ngày 5 - 8 - 2019
                                                   Đ - H

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Thuê xe 16 chỗ

02/08/1945: Hội nghị Potsdam kết thúc

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Potsdam Conference concludesHistory.com
Biên dịch: Lê Hồng Loan
Vào ngày này năm 1945, Hội nghị thời chiến cuối cùng nhóm “Tam Cường” (Big Three) – Liên Xô, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – kết thúc sau hai tuần tranh luận căng thẳng và đôi khi gay gắt. Hội nghị đã không giải quyết được hầu hết các vấn đề quan trọng lúc bấy giờ và do đó tạo tiền đề cho cuộc Chiến tranh Lạnh sẽ bắt đầu ngay sau khi Thế chiến II kết thúc.
Cuộc gặp tại Potsdam là hội nghị thứ ba giữa các nhà lãnh đạo nhóm Tam Cường. Liên Xô được đại diện bởi Joseph Stalin, Anh bởi Winston Churchill và Hoa Kỳ bởi Tổng thống Harry S. Truman. Đây là lần đầu tiên Truman tham dự cuộc gặp của nhóm. Tổng thống Franklin D. Roosevelt, người qua đời vào tháng 04/1945, đã tham dự hai hội nghị đầu tiên tại Tehran vào năm 1943 và Yalta vào tháng 2/1945.
Tại hội nghị Potsdam, vấn đề cấp bách nhất là số phận thời hậu chiến của nước Đức. Liên Xô muốn một nước Đức thống nhất, nhưng họ cũng khăng khăng rằng Đức phải hoàn toàn giải giới. Truman, cùng với số lượng ngày càng tăng các quan chức Hoa Kỳ, đã có những nghi ngờ sâu sắc về ý định của Liên Xô tại châu Âu. Quân đội Liên Xô đông đảo đã chiếm đóng phần lớn Đông Âu. Một nước Đức mạnh mẽ có thể là trở ngại duy nhất trên con đường thống trị của Liên Xô trên toàn châu Âu. Cuối cùng, nhóm đã đồng ý chia nước Đức thành ba khu vực chiếm đóng (một khu vực cho mỗi quốc gia) và trì hoãn các cuộc thảo luận về việc thống nhất nước Đức cho đến một thời điểm sau này.
Một vấn đề đáng chú ý khác tại Potsdam lại gần như không được nói ra. Ngay khi đến hội nghị, Truman được thông báo rằng Hoa Kỳ đã thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên. Với hy vọng sử dụng vũ khí này làm đòn bẩy trước Liên Xô thời hậu chiến, Truman đã vờ đề cập một cách tình cờ với Stalin rằng Hoa Kỳ hiện đang sở hữu một loại vũ khí có sức tàn phá khủng khiếp. Vị tổng thống đã phải thất vọng khi nhà lãnh đạo Liên Xô chỉ trả lời rằng ông hy vọng Hoa Kỳ sẽ sử dụng nó để đưa cuộc chiến với Nhật kết thúc nhanh chóng.
Hội nghị Potsdam kết thúc trong không khí ảm đạm. Rời hội nghị, Truman thậm chí còn bị thuyết phục nhiều hơn rằng ông phải áp dụng một chính sách cứng rắn đối với Liên Xô. Stalin thì càng tin rằng Hoa Kỳ và Anh đang âm mưu chống lại Liên Xô. Về phần Churchill, ông không có mặt trong lễ bế mạc. Đảng của ông đã thua trong cuộc bầu cử ở Anh, và ông đã bị thay thế giữa hội nghị bởi tân thủ tướng Clement Attlee. Potsdam là hội nghị hậu chiến cuối cùng của nhóm Tam Cường.

Thượng đỉnh Trump-Putin: Lịch sử có bao giờ lặp lại?

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Ngô Di Lân & Sơ Nguyên
Cách đây hơn 40 năm, cặp bài trùng khét tiếng Nixon-Kissinger đã tạo ra cơn địa chấn chính trị với chuyến thăm bất ngờ đến Trung Quốc, mở đường cho quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung sau nhiều thập kỷ đối đầu.
Chính “lá bài Trung Quốc” là một trong những “siêu vũ khí” của Mỹ, giúp nước này kiềm chế thành công Liên Xô trong suốt nửa sau của Chiến tranh Lạnh.
Mỹ đã từng vận dụng thành công con bài Trung Quốc để buộc Liên Xô phải chấp nhận hoà hoãn vào những năm 70. Bằng việc khai thác mâu thuẫn Xô – Trung ở mức tối đa, Mỹ đã tạo động lực để cả hai nước này theo đuổi quan hệ gần gũi hơn với Mỹ, từ đó cho phép Mỹ có nhiều khoảng không điều chỉnh chính sách linh hoạt hơn.
Trong mối quan hệ tay ba Mỹ – Trung – Nga, Trung Quốc và Nga thường có xu hướng xích lại gần nhau để cân bằng lại với Mỹ, trong khi Mỹ luôn tìm cách để phân tách họ thông qua lôi kéo hay trung lập hóa một nước.
Ngày nay, vật đã đổi, sao đã dời, Trung Quốc vươn lên trở thành đối thủ cạnh tranh chiến lược số một của Mỹ. Có vẻ như Mỹ đang muốn chơi “lá bài Nga” để kiềm chế Trung Quốc và giành lại thế thượng phong trong quan hệ nước lớn.
Hôm nay, ngày 16/7, Tổng thống Trump có cuộc gặp với Tổng thống Putin tại Helsinki, Phần Lan, bất chấp những căng thẳng hiện nay trong quan hệ hai nước. Điều này không khỏi khiến nhiều người nhớ đến chuyến thăm Trung Quốc lịch sử của Nixon năm 1972. Đại văn hào Mark Twain đã từng nói rằng “lịch sử không bao giờ lặp lại nhưng nó thường gieo vần”
30 cuộc gặp trong lịch sử
Nói đến các cặp “kỳ phùng địch thủ” trong nền chính trị hiện đại, có lẽ cặp Mỹ – Nga là tiêu biểu nhất.
Trong Thế Chiến II, do đối mặt với mối hiểm hoạ sống còn từ Đức Quốc Xã, hai bên dù không muốn nhưng buộc phải tham gia vào một cuộc “hôn nhân vụ lợi” để đánh bại thế lực bá quyền này. Sợi dây liên kết lợi ích vốn rất mong manh này đã đứt ngay giây phút quân Đồng minh giành chiến thắng chung cuộc vào mùa hè năm 1945.
Những gì diễn ra sau đó thì ai cũng biết: một loạt các mâu thuẫn về lợi ích ở những khu vực chiến lược trọng yếu trải dài từ Tây Âu đến Đông Á, những xung đột không thể dung hoà về ý thức hệ, sự ra đời của vũ khí hạt nhân, cuộc cạnh tranh để vươn lên vị trí số 1 thế giới … gần như khiến Chiến tranh Lạnh trở thành kết cục không thể tránh khỏi dành cho hai cựu đồng minh này.
Trong suốt những thập kỷ đối đầu, các cuộc gặp thượng đỉnh giữa lãnh đạo hai nước vẫn diễn ra, ngay cả trong những thời điểm cạnh tranh căng thẳng nhất.
Đó là những lúc họ gặp nhau để bàn về những vấn đề thế giới, quyết định số phận của một quốc gia hay khu vực, để “tháo ngòi” căng thẳng hạt nhân hay thậm chí cũng có những thời điểm gặp nhau với niềm hy vọng sẽ hạ nhiệt căng thẳng Chiến Tranh Lạnh.
Trên thực tế, thượng đỉnh Trump – Putin sẽ là cuộc gặp thượng đỉnh thứ 30 giữa nguyên thủ hai nước này kể từ khi Eisenhower và Khrushchev lần đầu gặp nhau tại Geneva năm 1955.
Trong số 30 cuộc gặp thượng đỉnh thì có đến 14 cuộc gặp dẫn đến việc ký kết những thỏa thuận lớn như Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM) giữa Nixon và Brezhnev năm 1972, Hiệp ước loại bỏ tên lửa hạt nhân tầm ngắn và tầm trung (INF) giữa Reagan và Gorbachev năm 1987 hay gần đây nhất là Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược mới (New START) giữa Obama và Medvedev năm 2010.
Lịch sử thượng đỉnh Nga-Mỹ vốn cũng không chỉ toàn màu hồng. Bên cạnh thành công thì cũng có không ít các cuộc gặp kết thúc trong thất bại thảm hại.
Sự kiện máy bay trinh thám U-2 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ của Liên Xô cùng sự phủ nhận hoàn toàn từ phía Mỹ đã khiến Khrushchev tức giận bỏ về sớm trong cuộc gặp thượng đỉnh năm 1960 tại Paris.
Cuộc thượng đỉnh Kennedy – Khrushchev năm 1961 tại Vienna cũng bị coi là một thất bại lớn khi lãnh đạo hai bên không thể đạt được đồng thuận trong việc đàm phán hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân, do những mâu thuẫn sâu sắc về tình trạng của thành phố Berlin – vốn nằm sâu trong lòng Đông Đức.
Những thất bại lớn này là lời cảnh báo đối với những ai đang đặt quá nhiều niềm kỳ vọng vào một sự đột phá sau cuộc gặp sắp tới giữa hai nguyên thủ Mỹ – Nga.
Đường đến Helsinki 16/7
Con đường đến cuộc gặp Trump – Putin tại Helsinki, Phần Lan ngày 16/7 đã trải qua nhiều thăng trầm.
Cần lưu ý rằng mầm mống của cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Nga đã xuất hiện ngay từ chiến dịch tranh cử Tổng thống trước tháng 11/2016. Khi đó ông Trump đã thể hiện thiện cảm đặc biệt với ông Putin, và ngỏ ý khi thắng cử sẽ đưa Mỹ và Nga lại gần nhau.
Hành động có phần cảm tính này của ông Trump sau đó phần nào đã làm hại ông, bị dư luận coi là con rối của ông Putin và khởi nguồn vụ điều tra Nga can thiệp vào bầu cử.
Những sức ép nội bộ đã ngăn cản chính quyền ông Trump không thể cải thiện quan hệ với Nga. Ngược lại, họ đã tuyên bố Nga cùng Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh xét lại” tại chiến lược an ninh quốc gia vào tháng 12/2017.
Những diễn biến sau đó càng khiến cho quan hệ hai nước đi xuống: Mỹ đóng cửa Lãnh sự quán và trục xuất 60 nhà ngoại giao Nga vào tháng 3/2018 sau khi nghi ngờ vụ đầu độc gián điệp tại Anh, tiếp theo đó là cuộc không kích của Mỹ – Anh – Pháp vào Syria với cáo buộc chính phủ Assad do Nga hậu thuẫn đã sử dụng vũ khí hóa học.
Mặc dù sức ép nội bộ và những diễn biến không thuận ở bên ngoài đã không cho phép ông Trump tiến gần hơn tới Nga, chính quyền ông Trump dường như vẫn chưa từ bỏ ý định này. Trong suốt thời gian qua, hai bên vẫn giữ kênh liên lạc để trao đổi thường xuyên.
Bản thân ông Trump và ông Putin đã gặp nhau hai lần: lần đầu tiên tại Thượng đỉnh G20 ở Đức (5/2017) và lần thứ hai ở Tuần lễ Cấp cao APEC tại Việt Nam (11/2017). Tuy nhiên, trước những con mắt dò xét và lịch công tác dày đặc, hai nhà lãnh đạo không có nhiều thời gian để trao đổi riêng.
Chỉ mới đây, khi mà chính quyền Mỹ phần nào đã có sự ổn định hơn ở trong nước, và sau cuộc gặp với ông Kim Jong-un thì uy tín về đối ngoại tăng lên, thì ông Trump bắt đầu đánh tiếng mong muốn gặp Nga.
Khi Trump gặp Putin
Câu hỏi đặt ra là động cơ nào khiến hai nhà lãnh đạo Mỹ – Nga lại quyết định gặp nhau?
Với Nga, ưu tiên cao nhất của họ là thoát khỏi hoàn cảnh bị bao vây kinh tế để có cơ hội phát triển. Kinh tế Nga về ngắn hạn thì có cải thiện nhưng về dài hạn thì đã tụt hậu rất nhiều kể từ khi bị cấm vận sau vụ sáp nhập Crimea năm 2014. Tổng thống Putin hiểu rằng không có sự ủng hộ của Mỹ và cá nhân ông Trump thì sẽ không làm được việc này.
Xa hơn nữa, Nga cũng có nhu cầu được trở lại G8, cải thiện hình ảnh của mình trên trường quốc tế, tiếp nối đà thành công của World Cup vừa qua.
Về phía Mỹ, các động cơ của họ phải kể đến yếu tố Trung Đông, Châu Âu và Trung Quốc.
Với Trung Đông, Mỹ hiện có nhu cầu rút lui chiến lược tương đối khỏi khu vực này, vận động sự ủng hộ của Nga với vấn đề Israel và Iran. Ngay cả khi Mỹ phải chấp nhận thực tế về thành công của bộ ba Nga-Iran-Assad trên chiến trường, họ cũng vẫn muốn duy trì chỗ đứng của mình ở khu vực này thông qua việc đảm bảo an ninh cho Israel và củng cố khả năng của các lực lượng người Kurd ở phía Bắc Syria.
Với Châu Âu, ông Trump đang gây sức ép mạnh với NATO về chia sẻ gánh nặng quân sự và với EU về kinh tế thương mại. Một cuộc gặp với ông Putin “trên lưng” các nước Châu Âu sẽ thể hiện một nước Mỹ dám làm, không kiêng nể, sẵn sàng ép buộc đồng minh theo ý mình.
Và động cơ thứ ba là với Trung Quốc – cường quốc đang vươn lên thách thức vị trí siêu cường số 1 của Mỹ.
Sự trùng lặp về thời điểm giữa những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm xoa dịu căng thẳng trong quan hệ Nga – Mỹ cùng mối đe dọa chiến tranh thương mại Mỹ – Trung ngày một gia tăng trong thời gian gần đây buộc người ta phải nghĩ rằng Trump và các cố vấn của mình đang cố gắng vận dụng “lá bài Nga” để đẩy Trung Quốc vào thế bị động trong quan hệ nước lớn.
Bao nhiêu giới hạn…
Có những lý do để không nên quá kỳ vọng cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Nga lần này sẽ đạt kết quả lớn ngay lập tức. Về cơ bản, cuộc gặp sẽ mang tính “mở cửa” để hai bên tiếp tục trao đổi, đàm phán cải thiện quan hệ. Tương tự như câu chuyện hòa dịu bán đảo Triều Tiên với thượng đỉnh Trump – Kim ngày 12/6 vừa qua.
Về nội bộ Mỹ, mặc dù ông Trump “dám chơi”, sức ép và rào cản để đến với Nga vẫn rất lớn.
Về đối ngoại, từ vấn đề Crimea cho đến khủng hoảng Syria, Nga bị xem như kẻ chuyên phá rối, hay thậm chí có tham vọng bá quyền ở khu vực, đi ngược lại với “giá trị Mỹ”.
Nội bộ Mỹ vốn đã quen với việc coi Nga là “cái gai trong mắt”, hay “con ngáo ộp” để vận động sự ủng hộ trong nước và cả đoàn kết với đồng minh NATO. Thậm chí người ta còn nói đến sự xuất hiện của “chủ nghĩa bài Nga” khi những phương thức tuyên truyền suốt bao nhiêu thập kỷ, qua cả báo chí và Hollywood đã xây dựng một hình ảnh Nga xấu xí trong con mắt người Mỹ.
Vấn đề đã càng trở nên nghiêm trọng hơn khi phía Mỹ cáo buộc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử năm 2016 để giúp Trump đánh bại Hillary. Do đó, mọi nỗ lực để hàn gắn quan hệ Mỹ – Nga chắc chắn sẽ vấp phải sự chống đối hết sức mạnh mẽ từ Quốc hội Mỹ, đặc biệt từ đảng Dân chủ.
Trong trường hợp đó, dù chính quyền Trump có quyết tâm chính trị rất lớn đi nữa thì với sự phản đối từ Quốc hội, việc hoàn toàn “đảo chiều” quan hệ hai nước ngay lập tức là gần như không tưởng.
Do đó, để cải thiện thực sự được quan hệ với Nga thì chính quyền tổng thống Trump phải tìm kiếm được lý do mà nội bộ đồng ý là chính đáng.
Vào thập kỷ 70, tổng thống Nixon đã làm được điều đó vì có lý do chiến tranh Việt Nam, người dân và chính giới rất mong muốn chính phủ rút quân khỏi Việt Nam. Và thời điểm đó mọi sự cũng thuận lợi cho Nixon khi Mỹ và Trung Quốc không có nhiều điểm đối đầu trực tiếp, và mâu thuẫn Xô – Trung lên đến đỉnh điểm. Lá bài “ly gián” do đó có thể được sử dụng hiệu quả.
Còn bây giờ thì lại khác.
…là bấy nhiêu triển vọng
Là người luôn tự tin cho rằng mình có thể “tái khởi động” quan hệ với Nga vốn đã đóng băng từ lâu nay, Donald Trump chắc chắn sẽ nỗ lực hết sức để chứng tỏ rằng mình là một nhà đàm phán đại tài. Sự quyết tâm của Trump sẽ là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để làm nên một cuộc thượng đỉnh thành công.
Một trong những “điềm lành” cho phía Nga là cách mà Trump đang hành xử với các đồng minh NATO của mình.
Một vị tổng thống Mỹ khác như Obama hay Clinton nếu thăm NATO trước khi thăm Nga thì thường sẽ nhấn mạnh cam kết an ninh của Mỹ, thậm chí sẽ cố gắng thổi phồng mối đe dọa từ Nga để tăng cường tình đoàn kết trong khối.
Là người luôn giương cao ngọn cờ “America First” (nước Mỹ trước tiên), đối với Trump, điều quan trọng nhất không phải là đảm bảo an ninh của các đồng minh mà là yêu cầu những nước này phải chia sẻ gánh nặng quốc phòng nhiều hơn.
Những tín đồ của chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế đã lý giải một trong những nguyên nhân của việc Nga can thiệp vào Ukraine năm 2014 đó là vì NATO đã mở rộng đến sát biên giới của họ.
Về lâu dài việc NATO nâng cao chi tiêu quốc phòng có thể đặt ra thách thức an ninh lớn hơn đối với Nga, nhưng các nhà lãnh đạo ở điện Kremlin cũng hiểu rằng sẽ không dễ để Trump ép được tất cả các đồng minh NATO hoàn thành chỉ tiêu dành 2% GDP cho quốc phòng – điều mà tất cả các tổng thống Mỹ trước đây đều thất bại.
Hơn nữa, bản thân việc Trump giữ vững lập trường cứng rắn với các đồng minh trong ngắn hạn thậm chí sẽ là tín hiệu tốt đối với Nga bởi nhiều khả năng nó sẽ gây rạn nứt trong khối NATO thay vì khiến tất cả đoàn kết hơn.
Với khởi đầu thuận lợi như vậy, sẽ có dư địa để hai bên cùng bàn bạc và giải quyết các vấn đề nóng, đặc biệt là ở khu vực Đông Âu và Trung Đông.
Việc đạt được một thỏa thuận “ngầm” về vai trò của Ukraine ở Châu Âu sẽ giúp cho quan hệ Nga – Mỹ tan băng ít nhiều. Tuy nhiên đây không phải là điều dễ dàng bởi một thỏa thuận về Ukraine đủ làm Nga hài lòng gần như chắc chắn sẽ yêu cầu phía Mỹ phải dỡ bỏ bớt các lệnh trừng phạt kinh tế và thậm chí công nhận việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea.
Sự song trùng lợi ích của đôi bên có phần lớn hơn ở Syria khi chính quyền Trump đã thể hiện rất rõ mong muốn rút quân khỏi Syria trong tương lai, đồng thời chấp nhận từ bỏ yêu cầu Assad phải “ra đi”.
Không phải tự nhiên mà phía Nga phản ứng tương đối mềm mỏng sau khi Mỹ và các đồng minh tấn công Syria vào tháng 4 vừa qua. Một thỏa thuận cho phép cả hai rút quân khỏi Syria và giữ nguyên chế độ hiện nay do Assad đứng đầu có thể làm thoả mãn cả đôi bên.
“Ông Trump đến với nước Nga”
Một điểm rất đáng lưu ý rằng: Ông Trump đang ở trong thời điểm rất nhạy cảm trong nhiệm kỳ tổng thống của mình.
Cuộc bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vào tháng 11/2018, nếu phe Cộng Hòa đạt kết quả tốt thì sẽ tạo tiền đề cho nhiệm kỳ 2 của ông Trump. Ngược lại, nếu Đảng Cộng Hòa để mất hạ viện thì chính quyền Trump sẽ phần nào bị “trói tay” trong 2 năm nhiệm kỳ còn lại. Do đó, quyết định gặp Nga trong thời điểm này chẳng khác gì ông Trump tạo cớ cho phe chống đối ở trong nước.
Từ khi nhậm chức đến nay, dường như mọi bước đi chính sách của chính quyền Trump đều có mục đích đối nội, nhưng lần này, có lẽ ông Trump sẵn sàng làm khác.
Người lạc quan thì cho rằng ông Trump thực sự bắt đầu hiểu về lợi ích chiến lược hơn ưu tiên ngắn hạn. Còn kẻ nghi ngờ thì sẽ nói thực chất vị Tổng thống doanh nhân này chỉ đơn thuần tìm cách tiếp tục “ghi danh” sau thành công tương đối của cuộc gặp trước đó với Triều Tiên.
Thực tế, vị Tổng thống lần thứ 45 của Hoa Kỳ đã cho chúng ta thấy hết lần này đến lần khác là:
Trước đó chẳng ai dự đoán được rằng ông sẽ “cứng với đồng minh” như Canada, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như NATO về kinh tế thương mại và chia sẻ gánh nặng quân sự. Cũng chẳng ai dự đoán được là ông sẽ “mềm” với đối thủ như trường hợp với Triều Tiên và Nga.
Một điều thú vị trớ trêu là: Nếu đem ra so sánh, có lẽ các cuộc gặp giữa Mỹ và các đối thủ truyền thống như Triều Tiên, Nga có tỷ lệ thành công cao hơn so với cuộc gặp các đồng minh với Mỹ như tại G7, NATO v.v…
Chuyến công du của ông Trump lần này tới Châu Âu là nhằm tham dự thượng đỉnh NATO và thăm Anh quốc, rồi mới đến Phần Lan gặp ông Putin. Nhưng dường như hai sự kiện trước đó đã và đang bị phủ bóng bởi Helsinki 16/7.
Cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Trump và ông Putin lần này vì thế không chỉ là câu chuyện của hai nước Mỹ – Nga. Họ gặp nhau có đạt kết quả gì hay không thì hạ hồi còn phân giải. Nhưng một điều chắc chắn là cả thế giới đang nhìn về phía họ.
Những con mắt lo ngại đó không chỉ đến từ phương Tây là các nước Châu Âu đồng minh của Mỹ, mà còn đến từ Trung Đông và ở xa Helsinki hơn là ở Châu Á, nơi có một cường quốc đang vươn lên thách thức vị trí số một vốn được Mỹ ngự trị từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai đến nay.
Năm 1972, “Nixon goes to China” – là câu nói hàm ý rằng chỉ có một lãnh đạo “bất thường” và dám làm như Nixon có thể đến Trung Quốc để thay đổi toàn bộ bàn cờ đại chiến lược khi đó. 46 năm sau đó, dường như ông Trump có mong muốn “đến với nước Nga”, trở thành một người thay đổi thế giới như vậy.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô gặp nhau để quyết định sự thay đổi của thế giới. Lần này, tại Helsinki, cục diện thế giới với những biến chuyển mới chính là lực đẩy khiến hai cường quốc này tìm đến nhau. Liệu rằng lịch sử sẽ lặp lại, hay chí ít sẽ gieo vần?
Nguồn: Soha

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Nữ hiệu trưởng đầu tiên Đại họcHarvard

Thuê xe 16 chỗ
Gilpin Faust: Nữ Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Harvard
Description: Print Friendly, PDF & Email
Description: http://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2019/08/jeff_lec__pic_faust.jpg
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Ngày 11/02/2007, bà Catherine Drew Gilpin Faust được chính thức bổ nhiệm làm Hiệu trưởng (president) thứ 28 của Đại học Harvard. Đây là một ngày quan trọng mà người Harvard không thể quên, vì nó đánh dấu sự chấm dứt lịch sử 370 năm cánh đàn ông độc quyền nắm giữ cương vị cao quý nói trên suốt từ ngày Harvard ra đời.
Harvard từ năm 1636 đã chờ đợi ngày này” – bà Patricia Albjerg Graham nguyên hiệu trưởng Trường Cao học về Giáo dục của Harvard xúc động nói. Bà nhớ lại: Năm 1972 khi đến Harvard làm nghiên cứu sau tiến sĩ, bà không được trường này cho vào ăn tại phòng lớn của nhà ăn, lý do chỉ vì bà là phụ nữ.
Đây là một ngày cực kỳ quan trọng, một ngày có ý nghĩa lịch sử đối với ĐH Harvard” – ông James R.Houghton đứng đầu Ủy ban tuyển chọn Hiệu trưởng Harvard và là thành viên lâu năm trong ban lãnh đạo Harvard Corporation tuyên bố. Faust “vừa có học vấn uyên bác lại có năng lực lãnh đạo mạnh, đồng thời có thể khích lệ mọi người cố gắng làm tốt công việc một cách xuất sắc nhất”, bà là “một nhà khoa học ưu tú, một nhà giáo chuyên tâm, một người cực tốt.”
Bà Catherine Hill, Giám đốc nghiên cứu của Hội Phụ nữ các trường ĐH Mỹ[1] nói: việc bổ nhiệm Faust làm Hiệu trưởng Harvard có “ý nghĩa tượng trưng quan trọng”.
Bruce Mann giáo sư trường Luật Harvard, một đồng nghiệp lâu năm của Faust nhận xét Drew Faust rất thích hợp lãnh đạo Harvard, một “trường ĐH nổi tiếng và khó lãnh đạo”.
Việc bổ nhiệm nói trên cũng được truyền thông Mỹ và thế giới đưa tin, bình luận.
Vậy Drew Faust có gì khác với các vị Hiệu trưởng Harvard trước đây?
Trước hết, bà là phụ nữ; sau đó, bà là người thứ hai chưa từng học tại Harvard. Cuối cùng, việc bổ nhiệm bà đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ suốt từ năm 1953 tới nay Hiệu trưởng Harvard chỉ là mấy vị nhân sĩ có tiếng tăm, từng là chính khách, quan chức hoặc cao thủ có tài quyên tiền thiên hạ chứ không phải là nhà khoa học thuần túy.
Gặp thời?
Việc bổ nhiệm Faust có liên quan tới sự ra đi của người tiền nhiệm là Lawrence Summers, nhà kinh tế nổi tiếng, nguyên Bộ trưởng Tài chính thời Tổng thống Clinton. Ông này có tài, có tầm nhìn nhưng hồi làm Hiệu trưởng (2001-2006) lại tỏ ra thiếu khiêm tốn, nói năng thiếu giữ gìn nên kém thu phục nhân tâm. Năm 2005, tại một hội nghị bàn về kinh tế, Summers nói: Trong các môn khoa học tự nhiên, toán học và công trình, phụ nữ không có tài năng như nam giới. Phát ngôn này bị phản ứng mạnh, một nữ giáo sư lập tức bỏ họp để tỏ ý phản đối. Ủy ban Nữ giáo sư Harvard công khai tuyên bố: “Hành vi của ngài đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho thanh danh của ĐH Harvard.
Quả thế, không ít nữ giáo sư sau đó đã tức giận từ chức; nữ giới cả nước lên án Summers. Để dẹp yên dư luận, ông này bèn lập nhóm công tác nữ giáo sư nhằm cải tiến việc tuyển dụng và đề bạt họ. Hồi ấy bà Faust đang là Giám đốc Viện nghiên cứu cấp cao Radcliffe.[2] Summers nhờ Faust giúp phụ trách hai tiểu ban học thuật ông mới lập nhằm tăng cơ hội tuyển dụng, đề bạt nữ giáo sư trong các lĩnh vực toán học, công trình và khoa học tự nhiên.
Tuy đã cố gắng cứu vãn tình hình, nhưng sức ép dư luận vẫn ngày một tăng, cuối cùng tháng 2/2006 Summers phải từ chức Hiệu trưởng Harvard. Có người nói, nếu không xảy ra sự việc này thì chưa chắc Harvard đã chọn một phụ nữ vào chức vụ đó.
Ai dám làm Hiệu trưởng Harvard?
Trong tình hình đó, Harvard Corporation tạm thời mời cựu Hiệu trưởng thời gian 1971-1991 là ông Derek Bok làm quyền Hiệu trưởng, đồng thời gấp rút tìm chọn Hiệu trưởng mới.
Sau mấy tháng sơ tuyển, cuối 2006, Ủy ban tuyển chọn Hiệu trưởng Harvard gồm 7 thành viên công bố danh sách người được chọn mặt gửi vàng. Từ Harvard có bà Elena Kagan, Hiệu trưởng trường Luật; bà Drew Faust nhà sử học; ông Steven Haiman Hiệu phó phụ trách giáo vụ (provost) … Từ các nơi khác có ông Steven Chu chủ nhân giải Nobel vật lý 1997 và một số nhà khoa học. Dĩ nhiên, thành phần nữ được chú trọng nhằm để cứu vãn thanh danh Harvard sau khi phát biểu coi thường nữ giới của cựu Hiệu trưởng Summers gây sóng gió dư luận.
Trên thực tế không ít người được đưa vào danh sách trên đã từ chối sự đề cử.
Ai cũng biết, Hiệu trưởng ĐH Harvard là một chức vụ có vinh dự rất cao nhưng lại vô cùng khó gánh vác. Harvard từng gửi lời mời vào chức vụ này đến nhiều vị lãnh đạo các trường ĐH nổi tiếng hoặc các nhà khoa học lừng danh trên thế giới, song phần lớn họ đều rút ra khỏi cuộc cạnh tranh nhắm tới chiếc ghế đó. Ông Alison Richard phó Hiệu trưởng ĐH Cambridge (Anh Quốc) khi được “lọt vào tầm ngắm” đã tỏ ý sẽ ở lại Cambridge mà không có ý định trở thành ứng viên của Harvard. Gay go nhất là ngay cả các nhân vật hàng đầu một số ĐH ở Mỹ cũng không quan tâm tới chức vụ này. John Etchemendy, Hiệu phó phụ trách giáo vụ ĐH Stanford, viết trong thư gửi Ủy ban nói trên: ông chẳng những “không coi mình là một ứng viên, hơn nữa cũng tin rằng mình sẽ không phải là ứng viên trong con mắt quý Ủy ban”. Bà Amy Gutmann Hiệu trưởng ĐH Pennsylvania thì nói thẳng: “Tôi khẳng định sẽ đảm nhiệm chức Hiệu trưởng ĐH Pennsylvania mà không quan tâm tới địa vị Hiệu trưởng các trường ĐH khác.”
ĐH Pennsylvania là một trường lớn thuộc Ivy League[3] nên dư luận cho rằng Gutmann rất hiểu lãnh đạo Harvard là một nhiệm vụ cực kỳ nặng nề. Tài sản lạc quyên được[4] của ĐH Harvard hàng năm lên tới cỡ 20-30 tỷ USD, tương đương ngân sách một quốc gia trung bình, tuy rất đáng ngưỡng mộ nhưng cũng có nghĩa là Hiệu trưởng Harvard phải vất vả bôn ba và có uy tín như thế nào mới bảo đảm “chạy” được nguồn tài sản tương đương như vậy.
Ngoài ra thế lực của Harvard Corporation rất mạnh, các đơn vị độc lập trong trường cạnh tranh với nhau rất quyết liệt, lãnh đạo một nhà trường như vậy thật khó khăn.
Sau gần một năm sàng lọc, cuối cùng Ủy ban tuyển chọn nói trên đưa ra quyết định bổ nhiệm sử gia nổi tiếng Catherine Drew Gilpin Faust 59 tuổi (sinh năm 1947) làm Hiệu trưởng thứ 128 của ĐH Harvard kể từ tháng 2 năm 2007.
Giàu tinh thần phản kháng
Trong một lần trả lời nhà báo mới đây, bà Faust nói bố mẹ bà muốn bà “trở thành vợ của một ông chồng giàu có.” Nguyện vọng ấy ngày nay rõ ràng là lỗi thời, nhưng với hoàn cảnh gia đình Faust thì đúng như thế. Bà xuất thân từ một gia đình khá giả và lớn lên trong trang trại chăn nuôi của ông bố tại một thị trấn nhỏ ở Clarke, bang Virginia cách Washington chừng 100 km. Mẹ bà là một điển hình phụ nữ suốt đời chỉ lo nội trợ và luôn dạy con gái biết sống an phận nữ nhi và phải hiểu được thế giới này là của đàn ông. Faust luôn được nhắc nhở đi đứng ăn nói phải đúng phép tắc, thí dụ ăn xong phải xếp thìa nĩa thế nào, khi đi cùng gia đình ra ngoài phải chú ý thứ tự trước sau, phải biết cách ăn nói khác nhau với người da trắng, người da đen… Một lần thay thầy giáo giảng Kinh Thánh cho lớp của con gái, ông bố Faust nói: “Chớ bao giờ tin đàn bà.” Trong các cuộc bàn cãi gia đình, ông thường kết luận: “Các con yêu quý, hãy nhớ rằng đây là thế giới của đàn ông, hiểu được điều đó càng sớm càng tốt.
Bầu không khí ngột ngạt ấy đã thức tỉnh tinh thần “phản kháng” ở cô bé. Sau này Faust nhớ lại: “Mẹ tôi luôn bảo tôi thế giới này là của đàn ông, con phải tiếp nhận sự thật đó. May mắn hơn mẹ, tôi sống trong một thời đại có thể chứng minh kết luận ấy của mẹ là sai.” “Tôi là kẻ phản kháng, chẳng những ra đường biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam mà còn luôn tranh cãi với mẹ, không tiếp nhận quan điểm của bà cho rằng đây là thế giới của đàn ông …
Từ nhỏ Faust đã từ chối làm các công việc khâu vá mà chạy đi cho bò ngựa ăn như con trai. Năm 9 tuổi, nghe đài nói ở Virginia đang có tranh cãi về vấn đề phân biệt màu da, Faust giấu bố mẹ viết thư đề nghị Tổng thống Eisenhower giải quyết vụ này: “Thưa Tổng thống kính mến, cháu người da trắng, năm nay 9 tuổi và có nhiều suy nghĩ về chuyện phân biệt chủng tộc … Cho tới bây giờ cháu mới để ý thấy học sinh trường tiểu học của cháu toàn là người da trắng, và cháu hiểu ra điều này hoàn toàn không ngẫu nhiên … Nếu cháu bôi đen mặt mình thì sẽ chẳng một trường công nào cho cháu vào học, tuy rằng cháu chẳng có thay đổi gì ngoài màu da mà thôi …” Không chỉ kêu gọi thanh toán nạn phân biệt chủng tộc, Faust còn tham gia cuộc biểu tình của phong trào nhân quyền.
Sau khi trở thành nhà sử học, Faust thấy cần đi tìm tung tích bức thư nói trên và bà đã thấy nó tại Thư viện Tổng thống Eisenhower ở bang Kansas. Bức thư viết ngày 02/12/1957 tại một trường tiểu học nông thôn ấy được Faust nhiều lần nhắc tới, coi nó là mầm mống đầu tiên của bản năng chống đối các tập tục. Bản năng ấy khiến Faust đứng vào hàng ngũ những người Mỹ đầu tiên phản đối chiến tranh Iraq.
Trưởng thành và cống hiến
Faust bắt đầu sống xa gia đình từ hồi đi học một trường trung học ký túc ở New England. Tiếp đó bà học tại Học viện dự bị Concord Academy ở Massachusetts, rồi tốt nghiệp ngành lịch sử tại Học viện nữ Bryn Mawr (Bryn Mawr College).
Từ khi học dự bị, em gái tôi bắt đầu đi con đường riêng của mình,” người anh của Faust sau này kể lại, “Tôi cảm thấy em tôi rất hiểu con đường mình sẽ đi, cô ấy luôn bừng bừng khí thế muốn làm được một cái gì đó.
Mới đầu Faust rất muốn vào ĐH Princeton, nơi ông bố, hai ông chú và nhiều họ hàng từng theo học, nhưng bà thất vọng chỉ vì hồi giữa thập niên 1960 Princeton không nhận nữ sinh.
Tại Bryn Mawr College, Faust chủ yếu học lịch sử. Năm 1968, Faust 21 tuổi tốt nghiệp Học viện này với thành tích xuất sắc. Sau đó bà làm nghiên cứu sinh tại ĐH Pennsylvania và năm 1975 lấy bằng tiến sĩ sử học chuyên ngành văn minh châu Mỹ. Bà ở lại trường này giảng dạy 25 năm với cương vị giáo sư, trong đó 5 năm làm Chủ nhiệm Khoa Văn minh châu Mỹ; ngoài ra còn làm Chủ nhiệm “Dự án nghiên cứu phụ nữ” trong 4 năm.
Năm 2000, giáo sư sử học Faust về làm việc tại Viện Nghiên cứu cấp cao Radcliffe Institute for Advanced Study. Năm sau bà được cử làm Giám đốc (Dean) Viện này. Tiền thân của nó là Radcliffe College, một học viện nữ độc lập trước ngày Harvard nhận cả nam lẫn nữ sinh (nhưng nữ sinh của họ có thể nghe giảng tại Harvard). Năm 1999, Radcliffe College nhập vào ĐH Harvard, đổi thành Viện Nghiên cứu; vì thế Faust trở thành người của Harvard. Trên cương vị mới, bà mạnh dạn tiến hành chỉnh đốn và cải cách, giảm chi tiêu hành chính, giảm 1/4 biên chế, mời nhiều học giả có uy tín trong phong trào nữ quyền làm cán bộ nghiên cứu, đem lại sức sống mới cho Viện, biến nó thành một cơ quan nghiên cứu quốc tế có tiếng. Từ đó tên tuổi Faust bắt đầu nổi lên tại Harvard.
Thế hệ sử gia mới của nước Mỹ
Faust là chuyên gia lừng danh về nghiên cứu lịch sử miền nam nước Mỹ và lịch sử cuộc nội chiến Mỹ, là chiến sĩ hăng hái bảo vệ nữ quyền. Bà đã xuất bản 6 cuốn sách, trong đó cuốn Mothers of Invention: Women of the Slaveholding South in the American Civil War (Những bà mẹ của sáng tạo: phụ nữ tại miền Nam duy trì chế độ nô lệ trong Nội chiến Mỹ; xuất bản 1996) được Hội Sử học Mỹ tặng giải thưởng sách hay nhất thuộc thể loại phi tiểu thuyết (nonfiction). Cuốn This Republic of Suffering: Death and the American Civil War (Nền cộng hòa đau khổ: sự chết chóc và cuộc Nội chiến Mỹ; xuất bản 2008) nói về 620 nghìn binh sĩ Mỹ ngã xuống trong 4 năm Nội chiến chỉ để dẫn đến kết cục đem lại nền cộng hòa, được báo New York Times chọn là 1 trong 10 sách hay nhất năm 2008 và được ĐH Columbia tặng giải Bancroft 2009. Con số 620 nghìn người chết  ấy tương đương với toàn bộ binh sĩ Mỹ đã chết trong tất cả các cuộc chiến tranh khác nước Mỹ từng tham gia từ Chiến tranh Cách mạng cho tới chiến tranh Triều Tiên. Thật là một sự lãng phí tàn nhẫn.
Quan điểm của bà về chiến tranh rất đáng chú ý. Trong một bài viết năm 2004, khi phân tích vấn đề tại sao chiến tranh là đề tài có sức cuốn hút nhất trong lịch sử, bà viết: Chiến tranh đem lại cho người ta sự trải nghiệm chân thực và mãnh liệt, khi đến thời điểm sống chết ai nấy đều tự hỏi: rốt cuộc điều gì quan trọng nhất? Cần hành động thế nào? … Các sử gia đã nhiều lần phân tích nguyên nhân và hậu quả của chiến tranh, nhưng sự phân tích trừu tượng đó không quan trọng đối với những người bình thường; chiến tranh đầy rẫy sự kích thích và sợ hãi, sự chết chóc và bi kịch của những người bị hại, nó tác động to lớn tới mọi người… Các tác phẩm của bà đã thể hiện quan điểm tư duy nặng tính nhân văn, phù hợp thời đại ngày nay của thế hệ sử gia mới trong việc phân tích các sự kiện lịch sử.
Phong cách lãnh đạo độc đáo
Faust chan hòa với mọi người, khéo léo tranh thủ được sự hợp tác của họ, có lẽ đây là một nguyên nhân quan trọng bà được chọn làm Hiệu trưởng Harvard. Bà Judith Rodin[5] Chủ tịch Quỹ Rockefeller  nhận xét: “Bà ấy kết hợp vô cùng khéo léo trình độ học thuật lỗi lạc với năng lực quản lý siêu phàm.” Ông Francis Sheldon Hackney, Hiệu trưởng ĐH Pennsylvania thời kỳ 1981-1993, một sử gia chuyên về lịch sử miền nam nước Mỹ và từng cộng tác chặt chẽ với Faust nhận xét: Các đồng nghiệp của Faust thường vui lòng nhờ bà giúp vì họ thấy quan điểm sử học của bà có độ tin cậy cao; Faust làm việc rất chắc chắn và có nề nếp, kiên nghị nhưng lại hay hài hước, được mọi người tín nhiệm.
Không ít người cho rằng Faust được cử làm lãnh đạo Harvard chủ yếu vì bà là nữ, nhưng Ủy ban tuyển chọn Hiệu trưởng Harvard kiên trì tuyên bố: giới tính không phải là nhân tố chủ yếu nhất khiến họ chọn Faust, điều quan trọng là tính cách và phong cách quản lý của bà. Faust hòa nhã điềm đạm, có tài cân bằng ý kiến các bên, khác hẳn người tiền nhiệm. Chính bà từng nói: “Tôi mong rằng việc bổ nhiệm tôi có thể tượng trưng cho sự mở đầu những cơ hội mà thậm chí thế hệ trước không thể tưởng tượng nổi”,[6]  và nhấn mạnh “Tôi không phải là Nữ Hiệu trưởng của Harvard, tôi là Hiệu trưởng của Harvard.”[7]
Theo tôi, đây là một mô hình mới của người lãnh đạo, có lẽ cũng liên quan tới giới tính song không nên hoàn toàn quy kết cho giới tính” – giáo sư Richard Chait chuyên nghiên cứu công tác quản lý ngành ĐH nói và cho biết: các công ty lớn của Mỹ gần đây có những thay đổi về mặt quản lý, một trong số đó là các nhà lãnh đạo cứng rắn đang được thay bằng những người điềm đạm hòa nhã, có khả năng giành được sự nhất trí của mọi người. Faust giỏi gợi ý cho người khác và tìm được sự đồng thuận của họ, điều ấy quan trọng hơn các chi tiết quản lý.
Đứng trước thách thức
Không chỉ Harvard mà về sau các ĐH Pennsylvania, ĐH Princeton, ĐH Brown đều có nữ Hiệu trưởng, chiếm một nửa số ĐH thuộc Ivy League. Trong tương lai, tỷ lệ nữ Hiệu trưởng sẽ còn tăng nhiều, vì năm 2006 nữ chỉ mới chiếm 23% số Hiệu trưởng trường cao đẳng và ĐH; ngoài ra hơn một nửa các vị này đã ngoài 60 tuổi, cần có sự thay thế. Khi có nhiều nữ Hiệu trưởng thì dĩ nhiên sẽ xuất hiện sự cạnh tranh giữa họ với nhau.
Drew Faust đứng trước không ít khó khăn. ĐH Harvard có uy tín quá cao, nơi đây từng là “lò ấp” của 7 Tổng thống Mỹ, trong số giáo sư có hơn 40 người là chủ nhân giải Nobel, nguồn tài sản có thể chi phối của nhà trường lên tới hàng chục tỷ USD … Bởi thế Hiệu trưởng Harvard là nhân vật “trên đe dưới búa”, mọi hành động và lời nói phải hết sức thận trọng.
Phái phản đối bổ nhiệm Faust thường nhấn mạnh Faust thiếu hiểu biết về Harvard, vì quá khứ của bà hầu hết không liên quan tới Harvard, lại thiếu kinh nghiệm công tác hành chính, chưa từng lãnh đạo một trường lớn. ĐH Harvard có tới 25 nghìn cán bộ nhân viên, ngân sách hàng năm 3 tỷ USD, còn Radcliffe Institute for Advanced Study bà từng lãnh đạo lại là đơn vị nhỏ nhất trong Harvard, chỉ có hơn 90 cán bộ, ngân sách 16 triệu USD, chưa bằng 1% của Harvard. Ngoài thiếu kinh nghiệm quản lý kinh phí, Faust còn thiếu kinh nghiệm quản lý một cơ quan học thuật có tính tổng hợp như Harvard. Các Viện và Học viện trong Harvard đều độc lập về hành chính, năm xưa Summers từng lực bất tòng tâm trong việc điều động Học viện Văn có lực lượng mạnh nhất Harvard. Cho nên người ta lo ngại liệu Faust có thể tồn tại được trong một môi trường lợi ích phức tạp, lắm phe phái này hay không.
Faust phải giải quyết nhiều công việc như lãnh đạo cuộc cải cách giáo trình lớn nhất trong 30 năm nay, chủ trì dự án mở rộng trường sở với kinh phí mấy tỷ USD; xây dựng cơ ngơi mới tại Boston để tiến hành việc nghiên cứu tế bào gốc… Bà còn phải giải quyết tình trạng bất bình đẳng các nữ giáo sư Mỹ đang phải gánh chịu: từ thập niên 1970 tới nay, lương của họ vẫn thấp hơn 19% so với đồng nghiệp nam giới.
Faust vừa nhậm chức được hơn một năm thì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra, đem lại nhiều khó khăn lớn và bất ngờ, thí dụ làm cho tài sản của Harvard năm 2009 bị giảm 11 tỷ USD khiến việc chi tiêu phải thắt chặt, dự án Boston phải hoãn lại… Faust nói: “Tôi phải lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh đầy lo lắng và bất an …”
Nhưng người đàn bà kiên cường ấy tràn đầy niềm tin vào tương lai. Bà khẳng định: “Tại Mỹ cũng như trên thế giới chưa một trường ĐH nào có lịch sử xuất sắc như Harvard; giờ đây chúng ta hướng tới mục tiêu làm cho tương lai của Harvard càng xuất sắc hơn.”.
Với tài năng và sự cố gắng của mình, bà Drew Faust đã vững vàng đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng ĐH Harvard trong hai nhiệm kỳ liền (1/7/2007-30/6/2018).[8] Năm 2014, bà được tạp chí Forbes bình chọn là người phụ nữ quyền lực thứ 33 trong danh sách những phụ nữ quyền lực nhất trên thế giới.
—————-
[1] American Association of University Women.
[2] Radcliffe Institute for Advanced Study, thuộc ĐH Harvard.
[3] Ivy League, tên gọi một nhóm ĐH lâu đời, có trình độ học thuật cao, uy tín xã hội lớn ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Theo The Oxford English Reference Dictionary, Ivy League gồm 4 trường: Harvard, Yale, Princeton, Columbia; nhưng theo Wikipedia thì gồm 8 trường (thêm Brown Univ., Cornell Univ., Dartmouth College và Univ. of Pennsylvania).
[4] Theo The World Almanac and Book of Facts 2004: endowment assets năm 2002 của ĐH Harvard là 17,169 tỷ USD; theo một nguồn tin khác, tài sản của ĐH Harvard là 26-36 tỷ USD.
[5] Nguyên Hiệu trưởng ĐH Pennsylvania, phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một trường ĐH thuộc nhóm Ivy League.
[6] “I hope that my own appointment can be one symbol of an opening of opportunities that would have been inconceivable even a generation ago”.
[7] “I’m not the woman president of Harvard, I’m the president of Harvard.”
[8] Hiệu trưởng thứ 29 của ĐH Harvard (từ 1/7/2018) là ông Lawrence