Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

504 nhà thơ Việt Nam


   



504 CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

Đỗ Hoàng

 (Phần I phóng tác Nguyễn Hiếu)

1 - Hữu Thỉnh chẳng còn bài nào,
Xe tăng vấp phải tường rào thi ca!
2 - Chế Lan Viên bánh vẽ ca
Vạn người nằm  xuống, thơ ta góp phần!
3 - Phùng Cung chịu bao phong trần
Để thơ ca Việt đến gần Trời cao!
4 - Cũng nên nhắc bác Nguyễn Bao
Cùng em Định Hải đã vào văn chương!
5 - Phùng Quán tính cách khác thường
Lưu danh sử sách cũng đương luận bàn!
6 - Lê Đạt là bậc siêu phàm
Công an đặt bục phải mang suốt đời!
7 - Hoàng Trung Thông chỉ mấy nhời,
Bên ta cũng thích, bên người cũng ưa!
8 - Trần Dần chẳng phải tay vừa
Nô ben cầm chắc ngàn xưa ai tày!
9 - Nguyễn Hữu Đang sánh trời mây,
Mặc cho hỗn thế đọa đày nhân gian!
10 - Hoàng Cầm tình ái đa mang
Tài thơ số một trên toàn Đông Dương!
11 - Lưu Trọng Lư không tầm thường
Tiếng Thu là đủ khơi nguồn nghìn thu.
12 - Nhạt nhàn văn xuôi Đỗ Chu
Nhảy qua thơ phú làm ngu thi đàn!
13 - Buồn cho anh Vũ Từ Trang
Buôn gỗ sung sướng lại quàng qua thơ.
14 -  Duy Khán im lặng vật vờ
Cho các em một giấc mơ bụt hiền!
15 - Phạm Tiến Duật cổ động viên
Để cho máu lính dính liền chân mây!
16 - Lê Thanh Nghị dân trai cày
Phê bình, thơ phú đã bay về trời!

17 - Hoàng Nhuận Cầm đáng bôi vôi

Coi cuộc đánh đấm như chơi chắt chuyền!

18 - Thơ vờ vịt Nguyễn Khoa Điềm
Nên đưa tất cả búa liềm lại phang!
19 - Hương thầm Phan Thị Thanh Nhàn
Xóm đê nhìn lại chỉ toàn cỏ rau!
20 - Trúc Thông đau chữ, đau câu
Bờ sông vẫn gió từ lâu nhạt nhèo!
21 - Nguyễn Quang Thiều đã phăng teo
Sính chơi Vô lối, cố đeo làm gì!
22 - Mai Văn Phấn cũng bỏ đi
Sở Đoan, Thuế vụ thư thi ai màng!

23 – Chút tài tử Hồng Thanh Quang,
Hang hùm, nọc rắn rán vang huê tình!
24 - Nguyễn Trọng Tạo tỉnh tình tinh
Nhạc thì một phách, thơ đinh đóng hòm!
25 - Nguyễn Đình Chính vượt đạn bom,
Đi tìm lửa khéo bị chơm ổ gà
26 – Những đêm châu thổ phù sa,
Diệp Minh Tuyền viết tình ca quê mình!
27 - In sa ra - gã Chăm tinh
Tiếng Việt nói ngọng còn bình thi thư!

Hà Nội ngày 16 – 7 – 2012

28 - Hoan hô nhà thơ Hải Như
Ngợi ca quan lớn hiền sư giữ chùa.
29 - Viễn Phương hề, chẳng chịu thua,
Làm con chim hót lăng vua suốt đời!
30 - Hữu Loan bầm dập phận người,
Hoa mua màu tím vẫn ngời sắc hoa!
31 - Hà Đông áo lụa Nguyên Sa,
Xứng danh thi bá tài ba vài dòng.
32- Trần Đăng Khoa hết thần đồng,
Ăn vàng cộng sản nên không thành ngài!
33 - Trần Mạnh Hảo thực kỳ tài,
Văn, thơ, luận chiến chẳng ai sánh bằng!
34 - Nguyễn Duy một thuở tiếng tăm,
Cũng nhờ rau má, nong tằm, ca dao!
35 - Chim Trắng thuộc loại cựu trào,
Nhưng mà chẳng có câu nào nhớ tên!
36 – Vớt từ đáy chén vớt lên
Nguyễn Trọng Tín mảnh trăng nghiêng có còn?
37 - Bảo Định Giang xứ đất hòn
Tháp Mười sen thắm mơ hôn Bác Hồ!
38 - Tạ Vũ uống rượu từng vò,
Vẫn mong Thị Hến xuống đò trong mơ!
39 - Nguyễn Thụy Kha đau giả vờ,
Nhạc thơ mưng tấy đồ rờ xi rê!
40 - Trần Nhuận Minh thấu tình quê,
Nỗi niềm câu chữ nhớ về cố hương!
41 - Chân thành thi sỹ Trần Nhương,
Nhúng vào sự thật văn chương có hồn!
42 - Nguyễn Chí Thiện nỗi như cồn,
Xứng danh Ngục Sỹ, thơ còn nghìn năm!
43 - Cao Tần đồng loại đánh văng,
Thi tâm nguồn cội sánh bằng ông cha!
44 - Nguyễn Bá Chung rời xứ ta,
Đêm ngày đau đáu quê nhà trong tim!
45 - Vũ Quần Phương đốt đuốc tìm,
Bè thơ sóng gió đánh chìm từ lâu!
46 - Thạch Quỳ Củ Nghệ tóc râu,
Nhưng mà cũng có nhiều câu nhớ bền!
47 - Xuân Hoàng đã bị lãng quên,
Bỏ quê không để cái tên cho làng!
48 – Cao Xuân Thái nghĩa Hà Giang,
Tuyết sa ngải đắng, chữ mang hồn người!
49 - Lê Văn Ngăn rất dở hơi,
Quyết làm Vô Lối bịp đời mấy chiêu!
50 - Bùi Giáng lục bát như Kiều,
Mưa Nguồn tưới thắm những chiều đảo điên!
51 - Đại Vô Lối Thanh Tâm Tuyền,
Hơi đâu mà nhắc cái tên ta bà!
52 - Bằng Việt vượt giàn đồng ca
Bằng dòng thơ dịch tài ba ai tày!
53 – Lum khum bóng Lê Thị Mây,
Chẳng còn một mảnh trăng gầy chờ mong!
54 - Y Phương tắm nước sông Hồng,
Nương thơ bị lũ bướm đồng cắn hư!

Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2012

Chân dung nhà thơ Việt Nam đương đại (Phần III)

55 - Trần Mai Ninh tài sức dư
Nhớ máu cũng đủ trả thù cho quê!
56 - Hoàng Lộc viếng bạn sẽ về,
Khó ai quên được lời thề thiêng liêng.
57 - Trần Hữu Thung tạo nét riêng,
Là nhờ thăm lúa đồng chỉêm quê mình.
58 - Xuân Hoài mãi chốn lặng im,
Thơ ông không biết đi tìm nơi mô?
59 - Tài hoa vặt Trần Ninh Hồ,
Bên câu liền chị dạt xô mạn thuyền.
60 - Nguyễn Phan Hách rất có duyên,
Làng tôi quan họ một miền thơ văn!
61 - Hà Nhật làm ánh sao băng
Trên trời thơ Việt cùng trăng sáng ngời
62 - Pờ Sảo Mìn con núi đồi,
Cây hai nghìn lá nhiều người nhớ anh!
63 - Ngọc Tường Hoàng Phủ lên xanh,
Cuối cùng thì chút công danh chẳng còn!
64 - Lâm Thị Mỹ Dạ mỏi mòn,
Hết mùa đổi hố bom tròn ra vuông!
65 - Hải Bằng dù mất đế vương,
Tuổi tên còn với quê hương lâu dài.
66 - Nguyễn Bắc Sơn quả thi tài,
Vẽ ra chất lính hình hài đánh thuê.
67 - Hồ Vi chỉ một lời quê,
Thế là cũng đủ nhớ về thơ ông.
68 - Vi Thùy Linh lúc lên đồng,
Khỏa thân chăn lạnh thèm chồng, thèm anh!
69 - Vĩnh Nguyên để lại bao vần,
Đời ta thua cỏ vạn lần mới đau.
70  - Võ Quê lẩn lộn vàng thau,
Giờ chắc đã thấm nỗi đau cọng dừa!
71 - Đinh Thu Vân tự bị lừa
Thơ gom đem dán chẳng vừa con tem.
72 - Chính Hữu rất giỏi thổi kèn
Cho đồng chí quyết xông lên diệt thù!
73 - Vũ Cao vượt đám sương mù
Núi Đôi cũng đủ đền bù đời thơ.
74 - Thu Bồn nhờ chút mộng mơ,
Chim chơ rao được tôn thờ trên nương.
75 - Vương Anh, Ngọc Lạc xứ Mường
Viết thì lại giống phố phường Thanh Hoa.
76 - Trần Quang Đạo thật tài hoa,
Giọng quê nhà chẳng nhạt nhòa trong tim!
77 - Nguyễn Linh Khiếu quyết đi tìm
Những đàn trâu mộng thành chim đại bàng!
78 - Thanh Hải bỏ phố lên ngàn
Mồ anh hoa nở đã tàn sắc hoa!

Hà Nội ngày 22 – 8 - 2012

CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (IV)

79 - Thanh Thảo xuống cấp thi ca
Cuối đời lại hót mấy cha chức quyền
80 - Nguyễn Việt Chiến đứa huyên thuyên
Thơ vè báo liếp tuyên truyền xóm thôn
81 - Lưu Trùng Dương từ cõi ồn
Bước sang cõi lặng mất luôn tên mình
82 - Nguyễn Bình Phương gã phong tình
Vô lối ngu tối, hắc tinh thi đàn
83 - Vương Trọng xả súng từng tràng
Đặng Trần Côn gục dưới làn đạn lia
84 - Đỗ Trung Lai – Hán biết gì
Dịch như dao chém Đường thi tan tành
85 - Đinh Nam Khương sớm tàn danh
Tìm nguồn bốc thuốc non xanh mịt mờ
86 - Cầm Giang ấn khuất tài thơ
Cuối cùng vẫn được tôn thờ thi nhân
87 - Xin đừng nhắc ả Giáng Vân
Cũng dòng vô lối tâm thần hiện nay
88 - Một đời thơ mỏ ai hay
Là Lê Tuấn Lộc ở ngay Hội nhà
89 – Lanh chanh Nguyễn Thị Ngọc Hà
Thơ vè thấp thoáng ta bà gian thương
90 - Thi tài có Trương Nam Hương
Khúc ca xa xứ đoạn trường xiết bao
91 - Lẫy lừng âm nhạc Văn Cao
Tài thơ cũng khó anh nào sánh vai
92 - Bùi Chí Vinh quả có tài
Loanh quanh lại thấy lai rai Sài Gòn
93 - Giang Nam tăm tiếng mỏi mòn
Quê hương một thuở chẳng còn tiếng tăm
94 – Đồng Nai có Đàm Chu Văn
Chút tình bạn hữu thắm đằm trong tim
95 – Thương thay chàng Nguyễn Thanh Kim
Thơ không hót được như chim trong lồng
96 – Kim Ba ở cuối Cửu Long
Dây cà, dây muống, chữ không có hồn
97 – Phan Huyền Thư chê cuội nguồn
Nằm nghiêng cho vết thương trôn chảy dài
98 – Xiên xẹo Nguyễn Phan Quế Mai
Dịch ra thơ Việt chẳng xài được đâu
99 – Vàng Anh Phan Thị mọc râu
Tuyên ngôn quyết cắt nhịp cầu ông cha
100 – Phạm Đình Ân trâu lá đa
Vòng quay tỏa sáng dư ba tình đời
101 – Hoàng Vũ Thuật tra (1) dở hơi
Vô lối tắc tỵ hết thời còn chi
102 - Viết ít nhất như Hải Kỳ
Thơ tình, tình tứ còn ghi thôn làng
103 – Hà Thúc Sinh rất ngang tàng
Nỗi buồn cuộc chiến tới ngàn năm sau
104 - Ngô Minh sẹo biển đỏ màu
Huyết bầm hột cát đến đau vạn đời
105 - Mai Ngọc Thanh chữ như người
Vượt lên tên tuổi giữa thời gớm ghê
106 - Hồng Thế thi sỹ tình quê
Đá còn nhảy, người còn mê mộng huyền!

Hà Nội 30 – 3 – 2017
(1)  Tra: Già (tiếng miền Trung)

CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần V)

107 - Anh Ngọc chỉ chê không khen
Đã từng nhóm cổ động viên chiến trường
108 – Hàn Mặc Tử trí phi thường
Là ngôi bá chủ thi vương rạng ngời
109 – Bích Khê mới lạ hơn người
Nỗi đau tinh huyết muôn đời lưu danh
110 – Làm nên tên tuổi Ngọc Anh
Kơ-nia tỏa bóng còn xanh đến giờ
111 – Nguyễn Thanh Mừng nghĩa tình thơ
Phóng sinh cho cá có bờ bến neo
112 – Nguyễn Đình Thi thuở ngặt nghèo
Ôm em, ôm cả súng đeo bên mình
113 – Lặn tăm hơi, Nguyễn Văn Dinh
Thi sỹ Quảng Bình chỉ viết ca dao
114 – Nguyễn Nhược Pháp quá tự hào
Chùa Hương lẽ hội, đường vào thi ca
115 – Đình Hùng cũng bậc tài ba
Nỗi niềm Đông Á vạn nhà cùng đau
116 – Nguyễn Bính thơ cỏ ngọn rau
Để cho nước Việt nghìn sau trường tồn
117 – Vũ Hoàng Chương xứng suy tôn
Thơ say, thi bá có hồn núi sông
118 – Quá lẫy lừng Phạm Huy Thông
Sông Ô tiếng địch thức lòng hồn quê
119 - Vũ Xuân Hoát cũng bùn đê
Thật thà pha chút xàng xê bạn bè
120 – Phạm Hầu vô tận có nghe
Vọng Hải đài để buồn tê tái đời.
121 – Trần Vạn Giã bao ngậm ngùi
Giữa vòng cuộc chiến dập vùi đứng lên
122– Lê Văn Vọng xứng ghi tên
Một con số không bỏ quên là mình
123 – Sài Gòn Nguyễn Thị Ánh Huỳnh
Câu chữ lạ tạo khối hình cho thơ
124  – Trần Hậu lưu lạc mộng mơ
Mối tình ảo thực nối bờ Á – Âu
125 – Mã Giang Lân bạc tóc râu
Hai lần vé giả đi tàu thi ca
126  – Triệu Lam Châu thực hào hoa
Dịch Nga, viết nhạc, thơ ta đều tài
127 – Triệu Nguyễn chẳng thích lắm lời
Tâm tình nguồn cội muôn đời cha ông
128 – Lý Hoài Xuân quả mơ mồng
Huyền thoại Nhật Lệ bềnh bồng Bảo Ninh
129 – Trần Nhật Thu vượt chính mình
Giữa miền tuyến lửa rạng danh với đời
130 – Thai Sắc ở tận cuối trời
Dã quỳ hoa vọng đến người mến yêu
131 – Trần Vàng Sao tuổi cuối chiều
Mới đau những cái mình liều xông lên!
132 – Văn Công Hùng nổi tuổi tên
Đất đai cây cỏ Tây Nguyên ghi hình
133 – Phạm Thiên Thư khúc ái tình
Cho người, cho bạn, cho mình dài lâu!
Hà Nội 3 – 4 – 2017
CHÂN NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần VI)
Đỗ Hoàng
134 – Xuân Diệu nổi tiếng địa cầu
Thơ tình từng chữ nhiệm mầu lời yêu!
135 – Sợi thương, sợi nhớ thêm nhiều
Thúy Bắc nhờ nhạc cho chiều thơ bay
136 – Vân Đài mơ mộng những ngày
Tài hoa một thuở đắm say Hà thành
137 – Thâm Tâm đời thật mỏng manh
Nhưng rồi nỗi “Tống biệt hành” âm vang
138 – Đông Hồ tình ái đa mang
 Chút tài tử đủ làm sang cho người
139 – Lửa thiêng Huy Cận ngời ngời
Tràng giang buồn đến muôn đời chưa tan
140 – Lam Luyến trễ mấy đò ngang
Chồng em, chồng chị lỡ làng nhân hai
141 – Lê Đình Cánh ít viết dài
Nhìn Quán Sứ thấy hình hài thi nhân
142 – Nguyễn Hữu Quý sớm nổi danh
Trường Sơn khát vọng xây thành cho thơ
143 – Hai trời Âu, Á còn mơ
Nguyễn Đình Chiến nối đôi bờ thi ca
144 – Tế Hanh là bậc tài ba
Hoa niên từ thuở xưa xa lẫy lừng
145 – Thương nhau sông suối, núi rừng
Ngọc Bái in dấu trên từng nẻo quê
146 – Phương Thúy cõi thực ê chề
Sông La tựa ngọc đường về cha ông
147 – Tùng Bách cười cợt  bông lông
Biết chê cái đám kèn đồng không tim
148 – Một nhà thơ phải đi tìm
Anh Phan Cung Việt biết chìm nơi nao?
149 – Phạm Ngọc Cảnh, cánh hô hào
Mấy sư đoàn thép lặn vào rừng tan
150  – Lò Ngân Sủn phút mơ màng
Chào em người đẹp, em càng đẹp mê!
151 – Nhìn mông hoa hậu vôi ve
Dương Ký Anh bị thơ đè chết tươi
152 – Chu Hoạch cống rãnh bệt ngồi
Nhưng thơ xúc động lòng người sớm trưa
153 – Phất cờ, phất mãi chưa bưa
Lê Chí ở giữa nắng mưa tội tình
154 – Hành phương nam Nguyễn Công Bình
Câu thơ gánh cả bóng mình trăm năm
155 – Nguyễn Trác lặng lẽ như tằm
Ngày dài, tháng lọn đợi rằm tơ ươm
156 – Khuất Bình Nguyên thơ à uôm
Chạy giải thưởng hơn con buôn chạy tù
157 – Đoàn Thị Ký nơi mây mù
Về xuôi giữ được câu thơ vẹn tròn
158 – Dương Thuấn con của núi non
Đi đâu cũng nhớ bản Hon xứ Tày
159 – Còn hơi thở muốn thơ hay
Đỗ Trọng Khơi vượt tháng ngày xe lăn!
160 – Mai Quỳnh Nam chữ vện vằn
Đố ai biết được rắn, trăn đề phòng!
Hà Nội 7 – 4 – 2017
Đ – H
CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (VII)
Đỗ Hoàng
161 - Tây Hồ mộng, Thái Thăng Long
Hồn thơ Hà Nội, Chín Rồng hào hoa
162 - Nguyễn Xuân Sanh nhịp hải hà
Cách tân xứng bậc tài ba thi đàn
163 – Hoàng Quang Thuận đứa bịp gian
Tưởng mua thơ được bằng vàng lưu manh!
164 – Phạm Đức có chút chân thành
Đơn phương yêu vẫn ngọt lành gửi trao
165 – Ngũ Liên Tùng giỏi tự trào
Lườm phường châu chấu, cào cào nhiễu nhương
166 – Tử Phác chết đói, chết buồn
Tài thơ, nhạc, chí phi thường muôn năm!
167 – Một người lặn tiếng, lặn tăm
Hồng Chinh Hiền đã từng nằm non xanh
168 – Đặng Đình Hưng mãi vang danh
Nhờ tài không phải công thành của con.
169 – Ý Nhi đời chẳng cô đơn
Buồn thơ lắp ghép còn hơn buồn mình
170 – Trần Chấn Uy, sóng đa tình
Tha hương ngóng Mẹ gánh hình núi non
171 – Bùi Tuyết Mai xuống phố, đồng
Có hình rừng ánh đèn lồng trong thơ
172 – Đặng Nguyệt Anh mối tình mơ
Bao nhiêu cậu ấm, bao giờ về đây?
173 – Thụy An bão gió đọa đày
Hồn Nhân văn vẫn muôn ngày còn thiêng
174– Đỗ Trung Quân nổi tuổi tên
Quê hương để nhớ xanh miền yêu thương
175 – Trải qua dặm thẳm chiến trường
Trần Nguyên Vấn đi trọn đường thơ xa
-        AA176 – Khi đàn ông lạc đến nhà BB
Trần Kim Anh có thi ca ngọt ngào
177 - Đồng Đức Bốn học ca dao
Người xinh mà khóc đò nào cũng nghiêng
178 – Sông Hương, núi Ngự hồn thiêng
Câu thơ Kim Yến tình riêng gửi người
179 – An Giang có Trịnh Bửu Hoài
Làm nên tên tuổi miệt xoài xanh cây
180 – Thu Nguyệt nổi tiếng những ngày
Vượt lên sức vóc xứ đầy bán mua
181 – Phạm Ngà nhớ lời ru xưa
Ru người nhưng cũng như vừa ru anh
183 – Lê Quốc Hán quả tài danh
Biến công thức toán trở thành tâm thi
184 – Thu Trang biền biệt Pa ri
Câu thơ hồn Việt vẫn ghi nhớ về
185 – Nghìn năm ba động Thúc Tề
Trăng mơ quấn quýt xuân về thùy dương
186– Có chàng lãng tử Kim Chuông
Nhặt câu từ dưới ao chuôm ruộng mòn.
187 – Lương Định lang bạt Sài Gòn
Câu ca xứ Lạng vẫn còn tâm trong.
188 – Thi Hoàng ở tận Hải Phòng
Viết thơ Tây trắng, mắt tròng phải bai
189 – Mai Văn Hoan ghép mấy bài
Thơ tình mốc thếch, nhạt phai dưới vè.
190 – Theo người mở cõi tìm về
Trần Hoàng Vy nối thêm quê thắm tình
191 – Phạm Đương là đứa hắc tinh
Ăn cắp thương hiệu công trình người ta!
Hà Nội 8 – 4 - 2017

CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (VIII)
Đỗ Hoàng
192 - Nổi danh lúc tuổi mười ba
Anh Thơ nữ sỹ tài hoa đương thời
193 – Vô lối rởm Từ Quốc Hoài
Còn thua mấy cháu lớp hai trường làng!
194 – Loáng thoáng biết Trần Anh Trang
Hỏi ra chẳng biết người đang làm gì?
195 – Hỏi cùng bác Đỗ Văn Tri
Viết là rất khó nên đi tận cùng
196 – Trường Sơn một thuở luồn rừng
Nguyễn Thái Sơn vẫn đau từng câu thơ
197 – Quang Chuyền phiêu dạt ước mơ
Vẫn nhờ cánh sóng nối bờ thương nhau
198 – Trúc Cương thần rượu tiêu sầu
Trong tim chưa cạn mấy bầu ngất ngây!
199 – Đỗ Minh Dương nhớ những ngày
Gặp em hội diễn càng say lòng mình
200 – Trần Nhật Lam lặn bóng hình
Bạn bè nhắc kẻo quên tình thơ văn
201 – Thân to lớn Hoàng Việt Hằng
Hai bên thi báo có bằng nhau không?
202 - Leo lên đến cuối sông Hồng
Đỗ Thị Tấc vẫn nhớ dòng về xuôi
203 – Mộng Tuyết rạng rỡ bao nguời
 Một trang nữ sỹ sáng trời đất Nam
204 – Đặng Hấn nối chữ người sang
Cầu nâng người bước, lòng càng mộng mơ!
205 – Không cần gây những bất ngờ
Nguyễn Trọng Văn vẫn nối bờ văn chương
206 – Nguyễn Sỹ Đại cứ thường thường
Ca ngợi đất nước, Đảng thương của mình
207 – Trong lặng lẽ, Nguyễn Tùng Linh
Biển mùa đông gửi trọn tình thủy chung
208 – Báo yên đi đến tận cùng
Cảnh Trà mất hút ở vùng cực Tây
209 – Tình bạn như ly nước đầy
Bùi Việt Mỹ sống đắm say tận lòng!
210 – Có người như có bằng không
Phải là Đào Ngọc Phong có nhầm?
211 – Chẳng lề lối, chẳng tri âm
Thuận Vi biết thế vẫn đâm sầm vào
212 – Lê Anh Xuân từng tự hào
Cấu vồng đã tắt giữa sao băng dày
213 – Nguyễn Thị Mai nhớ Khâu Vai
Chợ tình vẫn đẹp có hai người tình
214 – Cuộc đời trận mạc điêu linh
Trần Hoài Thư quyết lưu hình giang sơn
215 – Lão nông Fây Nguyễn Hoài Nhơn
Vẫn cày truyền thống tiếng đờn của choa
216 – Trương Quang Ngọc rất hào hoa
Lâu rồi không thấy anh ra thơ phường?
217 – Xứ người lạc Nguyễn Văn Chương
Thâu đêm câu chữ cho đường thơ lên
218  – Lê Mạnh Tuấn vẫn chí bền
Làm trai phải sống xứng tên tuổi mình
Hà Nội ngày 12 – 4 – 2017

CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần IX)
Đỗ Hoàng
219 – Tài năng nữ sỹ Xuân Quỳnh
Ra đi vẫn để bóng hình cho thơ
220 – Lưu Quang Vũ gây bất ngờ
Từ thơ sang kịch đôi bờ bằng nhau
221 – Phạm Văn Đoan sóng Vũng Tàu
Trường Sơn mãi mãi xanh màu biển khơi
222 – Trần Gia Thái thơ dở hơi
Đãi đằng nhục bút hót lời ngọng ngô!
223 – Vũ Ân Thi lặn ao hồ
Sài Gòn, Chợ Lớn, Tây Hồ, Hưng Yên?
 224 - Bùi Minh Quốc thời không quên
Ngọn cờ Dân chủ tuổi tên vang lừng!
225 –  Văn Lợi ca tụng tưng bừng
Thơ tình làng nhớ độ chừng mấy câu!
226 – Muốn mình có được dài lâu
Văn Lê dầu dãi bạc đầu vì mơ.
227 – Lãng Thanh có những bất ngờ
Tình yêu như ngựa phi mờ chân mây
228 – Mai Liễu bóng núi hao gầy
Tình em cây vẫn nở đầy rừng hoa
229 – Đi tìm hết lối gần xa
Trần Quang Quý muốn thơ ta khác người
230 – Lục bát rau má, ngọn khoai
Huy Trụ vẫn giữ trọn lời cho quê
231 -  Chiến tranh bắn giết gớm ghê
Luân Hoán thoát được mong về cố hương
232 – Một đời đeo đẵng văn chương
Châu Hồng Thủy chút tình thương cội nguồn
233 – Tài hoa có lúc nẫu buồn
Nguyễn Vũ Tiềm quê vẫn luôn ngóng hoài
234 – Trần Phá Nhạc giờ lai rai
Xuống đường lạc phố nhớ bài học ngu
235 – Dặm ngàn tuyết trắng mịt mù
Nguyễn Huy Hoàng được đền bù thơ ca
236 – Từ viên gạch mộc phù sa
Đoàn Xuân Hòa đánh lửa ra gạch vàng
237 –Trần Chính lặng lẽ mơ màng
Hát điệu chèo Liễu ngỡ ngàng cỏ rau
238 - Nguyễn Hưng Hải chẳng mè mầu
Trung du, đồi cọ, nương dâu là tình
239 – Trầm luân mãi Hoàng Tích Linh
Kịch thơ lưu bút đến nghìn năm xa
240 – Phan Khôi trẻ mãi tình già
Một đời tiết tháo ta bà phải kiêng!
241 – Hằng Phương lẩn lộn chung riêng
Phẩm chất nữ sỹ bỏ quên mới buồn
242 – Tép tôm một lũ con buôn
Vũ Đức Phúc tiếp đánh đòn Nhân văn
Hà Nội 15 – 4 – 2017

CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần X)
Đỗ Hoàng
243 – Võ Thanh An ẩn tiếng tăm
Nhưng Bờm đã sống nghìn năm nay rồi!
244 – Trần Thị Thắng ôi than ôi!
Một thời đạn lửa nung vôi còn gì?
245 – Đường tàu, cỏ má Anh Chi
Nhìn rau gắp thịt còn gì văn chương!
246 – Núi non lãng đãng mờ sương
Bế Thành Long nét khác thường thi nhân
247 – Bàn Tài Đoàn lắm phong trần
Muối Cụ Hồ thấm mặn dần bản buôn
248 – Nông Quốc Chấn giữ cội nguồn
Châu huyện đổi mới nỗi buồn sẽ tan!
249 – Mai Châu mây trắng đỉnh ngàn
Lò Cao Nhum nổi giữa làn sương xanh!
250 – Sinh dòng sông nước ngọt lành
Bế Kiến Quốc chút lòng thành cho ta
251– Tiếng suối trong – Tiếng hát xa
Trăng lồng thi tứ tài ba Cụ Hồ!
252 – Chà Và lãng đãng nơi mô?
Sóng Hồng thương phận dạt xô Chu Thần!
253 – Chết đường lạnh lẻo tấm thân
Phương Xích Lô chở tử thần nuôi thơ!
254 - Xích Bích khuất nẻo bến bờ
Hoa bí vàng được tôn thờ tim yêu!
255 – Lê Đình Ty đời phiêu diêu
Xác xơ thơ phú cũng liều như ai!
256 – Trần Huyền Trang vượt đường dài
Núi non Bình Định gánh vai với người!
257 – Từng chữ khó nhọc ngược xuôi
Trần Quốc Thực suốt một đời cho thơ!
258 – Dương Kiều Minh cũng ất ơ
Đại ngôn, khẩu hiệu bến bờ nào neo?
259 – Hà Huy Hoàng không bọt bèo
Quê mình, mình cứ hát theo giọng mình!
260 – Hồ Zếnh một đời phiêu linh
Chiều châm điếu thuốc cho tình thêm men
261 – Nghiêng chai lặng lẽ say mèn
Trịnh Thanh Sơn níu sợi bền thơ văn!
262 – Nguyễn Khắc Thạch mất tiếng tăm
Một bờ, một cánh lặn nằm nơi nao?
263 – Sân trường tiếng trẻ lao xao
Đông Hà cũng lịm chốn nào trông mong?
264 - Xuân Miễn từ biệt miền Đông
Bao cô bộ đội không chồng mà ngoan!
265 – Xuân Sách chân tướng lên toan
Văn thơ quỷ quái nhưng toàn lời hay!
Hà Nội  22 – 4 -2017
Đ - H
CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XI)
Đỗ Hoàng
266 - Trịnh Hoài Giàng cánh buồm lay
Nỗi đau biển cả ở ngay mạn thuyền
267 – Thơ Việt không biết gọi tên
Dư Thị Hoàn bị lãng quên đoạn đành
268 – Mặt trời từ ấy rạng danh
Máu hoa Tố Hữu công thành cốt khô
269 - Tài chi cũng lạnh nấm mồ
Lê Đức Thọ giỏi tung hô quân vào!
270 – Trải qua một cuộc máu đào
Ngô Thế Oanh viết thế nào ai hay?
271- Đoàn Phú Tứ bị đọa đày
Màu thời gian vẫn những ngày âm vang!
272 - Thế Lữ nguyên súy Tao đàn
Trắng tinh cánh hạc giữa ngàn chơi vơi
273 - Tô Ngọc Thạch lúc ít lời
Thì tin mưa nắng khoảng trời của em!
274 - Khát khao cái mới thường đêm
Hải Đường cũng tự bước lên thi đàn!
275 - Yêu là dâu bể đa đoan
Nguyễn Lập Em chẳng tính toan lỗ lời!
276 – Lũi lầm bãi sắn, đồng khoai
Bùi Quang Thanh cũng có bài rau xanh
277 - Phận hèn ngọn cỏ mong manh
Nguyễn Long mấy kiếp mới thành thường dân!
278 – Nguyễn Vỹ tù tội phong trần
Gửi Trương Tửu khúc thần thi ca.
279 - Biển quê, sông nước, áo bà
Nguyễn Ngọc Phú nghĩa quê cha sớm chiều
280 -- Một đời mãi kiếp đang yêu
Đặng Vương Hưng biết nói điều vì nhau!
281 – Bầy sâu cà vạt đỏ nhàu
Bành Thanh Bần thấu nỗi đau dân lành
282 – Thành Tùng một thuở lừng danh
Màu hoa đỏ đã trở thành lời ca
283 – Hoàng Hưng bầm dập tài ba
Hành trình tìm mặt cho ta cho người
284 – Trang Nghị có tiếng một thời
Mùa dưa quê mẹ, mắt người em xinh!
285 – Ngay trong cả viết thơ tình
Đặng Huy Giang biết chán mình, thật không?
286 - Đời như sân khấu một vòng
Phạm Trường Thi gửi nỗi lòng cho thơ
287 – Lục bát có cũ bao giờ
Nguyễn Thế Kiên vẫn tôn thờ ca dao!
288 - Nhọc nhằn vó ngựa non cao
Lê Minh Quốc quyết lối vào tim thương
289 – Trúc Chi lăn lộn sân trường
Vẫn dành câu chữ đời thường từng trang
290 – Bùi Quang Thanh (Nga) trải dặm ngàn
Về quê thấy chiếc là vàng nhặt lên!
291 – Một giấc tiền chiến Mộng Huyền
Người từ giã đẩy tôi lên phía trời!
292 – Chiến tranh đã qua lâu rồi
Phạm Xuân Trường đứng khóc ngồi hai phe
293 – Thịt chó rượu mận đầy be
Bùi Hoàng Tám chỉ máu me đồ nhà
294 - Như thuyền sóng lớn đi xa
Lê Xuân Đố nhớ quê ta sinh thành
295 - Du Tử Lê phận mỏng manh
Lưu vong khi chết, biển xanh làm mồ!
296 - Kề vua biết tới khi mô?
Trúc Linh Lan để héo khô phấn vàng
297 - Trải bao biến động trần gian
Tần Hoài Dạ Vũ mơ màng dáng xưa
298 - Đời trai chinh chiến nắng mưa
Phạm Sỹ Sáu nhớ ngọn cờ đầu quân.
299 - Phạm Dạ Thủy giữa phong trần
Tự mình xa lạ mấy lần chờ mong!
300 – Thi Vũ đau đáu tận lòng
Nỗi quê vời vợi như không bến bờ
301 - Tháng ngày thắc thỏm quê mơ
Mạc Phi lãng đãng dấu xưa mộng người
302  – Thế Dũng biệt xứ xa vời
Qua bốn phường trời, vẫn giữ từ tâm!
303 – Nấm mộ khắc dấu hương trầm
Nguyễn Đức Mậu chút tri ân bạn bè!
304 – Nguyễn Thanh Lâm với đam mê
Tử vi, mưa nhớ lời thề tuổi hoa
305 – Nguyễn Khôi làng bản gần xa
Người yêu tiễn dặn như ta dặn mình
306 – Đứng dậy đi, ơi người tình
Phạm Hồ Thu gọi giữa thinh không người!
307 – Trần Tâm từ than, bụi vôi
Câu thơ bỏng rát nắng trời xi măng!
308 – Trải qua bao nổi bất bằng
Nguyễn Nguyên Bảy vẫn lòng hăng hái đầy
309– Ái tình vẫn chuyện gió mây
Lan Sơn mộng vỡ khó đầy tình xưa
310 – Đã nhiều kẻ đón người đưa
Đỗ Bạch Mai vẫn nắng mưa một mình
311 - Lý Phương Liên nỗi đám đình
Giờ thơ đến lại người tình trăm năm
312 -  Trương Tửu đau nỗi Nhân văn
Như Kiều thân gái qua trăm đoạn trường!
Hà Nội ngày 24 – 4 – 2017
Đ – H
(còn nữa)

Chân dung Thơ Việt đương đại (tiếp theo ) – Phần (XII)
Đỗ Hoàng
Ltg: Sau khi in Chân dung thơ Việt đương đại lên Fây, tôi được nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sỹ, họa sỹ và bạn đọc khen ngợi khuyến khích như : nhà thơ Trương Nam Hương, Nguyễn Công Bình, Ngô Minh, Vĩnh Nguyên, Trịnh Thanh Phong, Lê Quốc Hán, Thạch Quỳ, Thái Thăng Long, Văn Lê, Hải Đường,  Nguyễn Hữu Quý, Trần Chấn Uy, Phạm Thanh Khương, Nguyễn Đình Ấm, Trần Hậu, Đỗ Trường, Văn Cung Nguyên, Nguyễn Đình Ấm, Trần Mỹ Giống, Trần Hoàng Vy,  Hoàng Liên Sơn, Dương Diệu Minh…yêu cầu viết thêm chân dung nữa. Tôi biết làm công việc này thật lắm kẻ yêu, người ghét, “ở sao cho vừa lòng người,  ở rộng người cười, ở hẹp người chê.”. Thôi cứ làm theo tiêu chí của mình, không đại diện cho ai cả, chỉ là ý kiến cá nhân chủ quan ! Cám ơn mọi người chia sẻ!
313 – Song Hảo về với đời thường
Được yêu, hối hận đoái thương phận tình
314 – Thêm một là Trần Hòa Bình
Nhờ thêm một biết hài hình trong tâm
315 – Lặng thầm ông Nguyễn Xuân Thâm
Tình quê, nghĩa bạn tri ân đồng bào
316 – Học Tây rồi lại học Tào
Chẳng ai biết Trần Đăng Thao viết gì
317 – Ninh Bình có Lâm Xuân Vy
Việc nông, thơ phú chi chi chành chành.
318 – Sẹo đất một thuở hỗn danh
Ngô Văn Phú vẫn êm lành thênh thang
319 – Đoàn Thị Tảo khéo đa mang
Trời không nín gió, níu chàng rưng rưng
320 – Cao nguyên, gái bụi, đường rừng
Với Tạ Văn Sỹ như chừng đã quen
321 – Nguyễn Đức Tùng thật chập cheng
Hai kư cóp nhặt bông phèng phương Đông
322 – Trần Đỗ Liêm, đất sông Hồng
Làm nên tên tuổi Chín Rồng phù sa.
323 – Mã Thế Vinh xứ hồi hoa
Câu si, câu lượn cho ta nhớ nàng.
324 – Nằm trong kho bạc, kho vàng
Nguyễn Ngọc Oánh vẫn mơ màng thi thư
325 – Ông Lành cây táo tàn hư
Hoàng Cát bị đánh ngắc ngư mấy lần
326 – Ngóng chồng, Tương Phố phân thân
Mà nên câu chữ rạng danh một thời
327 – Mỗi lần về bến đò Choi
Nhớ Hồ Minh Hà viết bom rơi quê nhà
328 – Chút ân tình Phạm Quốc Ca
Nỗi niềm thao thiết quê nhà lắm thay.
329 – Chiến trường đạn nổ, tên bay
Đặng Hồng Thiệp muốn chặn ngay đấu trường!
330 – Nông Thị Ngọc Hòa lên nương
Khói chiều thơm cả bản mường vào thu
331 – Trần Anh Thái lội ao tù
Mặt trời đổ bóng mây mù sẽ tan
332 – Đau như hoạn, Thái Ngọc San
Xuống mồ mới ngộ lấy vàng đổi rơm
333 – Đôi dòng lục bát kép đơn
Phạm Công Trứ vẫn mới hơn nhiều bầy!
334 – Trần Hùng vô lối tưởng hay
Hóa ra cầm kiếm chém bay cội nguồn
335 -  Từng làm du lịch bán buôn
Lại Hồng Khánh chữ câu tuôn mùi tờ!
336 – Dập bầm kiếp Trần Dzạ Từ
Hòn đá bốc lửa sáng như ánh đèn!
337 – Việt Phương khuấy động tuổi tên
Quyết mở cửa kín, dân đen được nhìn.
338 – Lê Nhược Thủy gửi chút tình
Con thuyền xa xứ có hình cố hương!
(còn nữa)

Hà Nội, ngày 3 - 5 - 2017
Đón đọc: Phạm  Thị Ngọc Liên, Bùi Hiền, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Đinh Phạm Thái, Mai Linh, Huy Trụ, Nguyễn Văn Toại, Nguyễn Trọng Hoàn, Lữ Huy Nguyên, Vũ Duy Thông, Ngân Vịnh…

CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XIII)
Đỗ Hoàng
339 – Ông đồ tưởng lặn khói sương
Vũ Đình Liên dẫn dắt đường đi lên
340 – Bàng Bá Lân ngỡ là quên
Giếng xưa chung bóng nổi tên lâu dài
341 – Vương Tâm chấp nhận trần ai
Có nhiều khoảnh khắc cả hai giật mình.
342 – Lão làng tên tuổi Gia Ninh
Nhớ quê nguồn cội Quảng Bình lênh đênh
343 - Phạm Thị  Ngọc Liên nổi nênh
Đường xa đèo núi ghập ghềnh chơi vơi
344 – Cũng người nổi tiếng một thời
Đoàn Văn Cừ vẫn sáng ngời thôn ca!
345 -  Thanh Quế lặng lẽ quê nhà
Tự làm mới dặm đường xa lần về
346 – Càng mê, càng lỡ hẹn mê
Bùi Hạnh Cẩn năm tháng thề tiêu tan
347 – Cung Trầm Tưởng một cung đàn
Paris thu lạnh thế gian hồng trần
348 - Ngân Vịnh lạc mỏ chuông ngân
Phải lòng mùi tóc tình nhân phả vào
349 – Hoàng Tố Nguyên đời lao đao
Mong em lên thác cho trào lòng yêu
350 – Nguyễn Thị Hồng Ngát biết liều
Mỗi khi khát đến tự thiêu mưa lòng!
351 – Võ Văn Trực con ruộng đồng
Dành trang viết thật xanh trong tặng làng
352 – Tạ Hữu Yên buộc quân trang
Hát cho cuộc chiến vừa tan máu nhòe!
353 – Người thì chia nhóm, chia phe
Phạm Hổ tìm bạn bò bê ngoài đồng
354 – Bè xuôi mãi Vũ Duy Thông
Không có bến đậu dòng sông chốn nào!
355 – Bàng Sỹ Nguyên chợ vùng cao
Vợ chồng xuống núi say nào mình say!
356 – Cẩm Lai nổi tiếng những ngày
Tơ tằm, chồi biếc đến nay có tàn?
357 – Chỉ là một ngọn rau tần
Nổi tên tuổi Trần Huyền Trân với đời
358 – Nguyễn Đăng Hưng sống xứ người
Từng câu, từng chữ đậm lời cố hương
359 – Làm doanh nghiệp Đoàn Mạnh Phương
Đi buôn manh múng, văn chương có bằng?
360 – Người nổi tiếng Trần Lê Văn
Tình phường, nghĩa bản trăm năm vẫn bền
361 -  Dương Tử Giang không thể quên
Một chặng đường thơ ở trên Quảng Bình!
362 – Cực Trung có Đỗ Quang Vinh
Biển xanh cát trắng lưu hình trang văn
363 – Đắm say từ thuở gieo mầm
Nguyễn Trọng Hoàn vẫn âm thầm mốt mai.(*)
Hà Nội ngày 3 - 5 - 3017
Đ - H
 (cón nữa)
(*) Đón đọc Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Văn Toại, Đinh Phạm Thái……


CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XIV)
Đỗ Hoàng
364 – Quang Dũng thi sỹ biệt tài
Với Tây Tiến xây tượng đài thơ ông!
365 – Lo tròn đạo nghĩa vợ chồng
Là thu cảm Nguyễn Thị Hồng chứa chan!
366 - Lững lừng tên tuổi Yến Lan
Đường về lối bến My Lăng vẫn  còn.
367 – Nguyễn Thị Đạo Tĩnh mỏi mòn
Chữ duyên hai nửa chưa tròn cho nhau
368 – Ngân Giang mỏi kiếp buồn đau
Tài danh phận gái bạc đầu chưa tha!
369 – Chút đa đoan Phi Tuyết Ba
Nửa vầng trăng khuyết biết là lỗi ai?
370 – Vướng bùa ngãi Lê Khánh Mai
 Đời cho yêu viết là may mắn mừng.
371 – Hôm nay của Phùng Ngọc Hùng
Ngày mai thế giới nổi khùng các em!
372 – Dập bầm số phận đỏ đen
Trần Dzạ Lữ níu thơ nên đời miềng!
373 – Lên tiếng gọi Ma Trường Nguyên
Gọi mình mà cũng không quên gọi nường!
374 – Lặng lẽ sống Vũ Thị Khương
Vẫn chờ, vẫn đợi, nhớ thương nát lòng!
375 – Mai danh như Đỗ Quý Bông
Trùng tu câu chữ cho dòng văn sang!
376 – Dương Huy cười cợt nhẹ nhàng
Đồ nhà lắm kẻ bẽ bàng khi coi!
377 – Vương Linh con sóng mặn mòi
Biển đêm thắp sáng vùng trời khơi xa!
378 – Viết cả chữ Việt, chữ Nga
Lê Cảnh Nhạc có khúc ca hát nào!
379 – Nỗi riêng đau sóng biển trào
Lê Thị Kim tránh lối vào hư vô!
380 – Cầm Biêu giữ bức họa đồ
Cầu vào bản, muối cụ Hồ cho dân!
381 – Hải Phòng có Phạm Vân Anh
Vừa vô lối, vừa lên gân kịch trường.
382 – Sơn nữ Đặng Thị Thanh Hương
Biết chơi dao sắc giữa phường phố xa.
383 - Nguyễn Bảo Chân cố đi xa
Có bao nhiêu lá mới là mùa thu?
384 – Minh Huệ ngợi ca Bác Hồ
Từ đêm không ngủ thành thơ dâng đời!
385 – Hoàng Trần Cương chẳng kiệm lời
Trầm tích kể lể, một hơi nghìn dòng!
387– Dọc ngang đường bộ, đường sông
Tàu thuyền sẽ nhớ tấm lòng Trường Giang.
388 – Mọi người vẫn nhắc Lương An
Ai về bến Trấm đò sang đợi chờ!
389 – Yên Thao bền bỉ đến giờ
Nhà đồi đã đón nhà thơ bước vào!
(còn nữa)
Hà Nội ngày 5 – 5 – 2017
Đ - H
Đón đọc: Lâm Huy Nhuận, Hà Văn Thể, Hoàng Minh Châu, Phạm Thu Yến, Anh Vũ, Nga Hơvê, Phạm Ngọc Thường Đoan, Lương Ngọc An…




CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XV)
Đỗ Hoàng
390 – Dòng nước ngược khí phách cao
Nước xuôi Tú Mỡ lặn vào khơi vơi
391 – Lấy vàng đổi sắt ai ơi
Đông Trình tìm lại chân trời lộ mô?
392 – Lê Huy Mậu biệt hải hồ
Sông quê úp mặt bến bờ nhớ nhau.
393– Khóc Hoài đậm chữ, đậm câu
Vĩnh Mai tên tuổi dài lâu chẳng tàn
394 – Phan Vũ tình cũ mênh mang
Hà Nội phố vẫn mơ màng nghìn năm!
395 - Nga Hơ vê con rú ngàn
Yêu nhiều, nhớ lắm muôn vàn mến thương.
396 – Quách Tấn lặng lẽ bình thường
Một tấm lòng giữa đêm trường thơ điên!
397 – Quê ngoại không thể nào quên
Ngô Quân Miện lại có thêm lối về.
398 – Bỏ con, dứt áo ra đi
Lệ Thu giờ đã thấm vì hư vinh
399 - Lương Ngọc An quyết đi tìm
Giai điệu mới chính từ tim đấy mà!
400 - Lê Giang bao tháng năm qua
Vẫn đi tìm ngọc quê nhà có không?
401 – Hành trình mê mải Vân Long
Qua mưa vẫn thấy lầu hồng của ai!
402 – Tuệ Mai thức sự thi tài
Không bờ bến lạc hình hài hồn hoa!
403 – Viết cho đời, viết cho ta
Hoàng Hương Trang gửi người xa chưa về!
404 – Lâm Huy Nhuận nhìn gớm ghê
Người trong gương ấy hơn tê tái buồn!
405 – Một thời bầm dập Thảo Phương
Cây mùa đông nỗi sầu vương dặm dài!
406 – Phùng Khắc Bắc biết là ai?
Một chấm xanh rõ hình hài thi nhân!
407 – Tô Thùy Yên trải phong trần
Câu thơ lưu lạc trong ngần giọng ca!
408 – Phía núi cao Võ Sa Hà
Sợi tơ thổ cẩm mới là tơ yêu!
409 – Nỗi niềm day dứt sớm chiều
Nguyễn Thúy Quỳnh cũng tính điều vọng phu!
410 – Văn chương mơ được đền bù
Nguyễn Văn Toại con trung du nên người!
411 – Hoàng Trung Thủy bên biển khơi
Muốn thành trai ngọc cho đời sáng hơn!
412 – Thôi Hữu đường lên Cấm Sơn
Bản thôn củi lửa nỗi hờn có sao?
413 – Đinh Phạm Thái đáng tự hào
Văn chương khoa học lối vào đường ra
414 – Trứ danh kiêu hãnh Nhã Ca
Khăn sô cho Huế xót xa vạn đời!’
(còn nữa)
Hà Nội ngày 7 – 7 – 2017
Đ – H

Đón đọc: Phạm Công Thiện, Nguyễn Bùi Vợi, Lê Mai, Mai Hồng Niên, Anh Vũ, Vũ Thị Huyền, Nguyễn Trọng Tín…

CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XVI)
Đỗ Hoàng
415 – Phạm Công Thiện chữ hơn trời
Tâm tư ý tứ đều lời quê hương
416 – Người lính già chết tha phương
Trần Trung Đạo biết cảm thương phận hèn!
417 – Viết nôm na Mai Hồng Niên
Tổng Cóc lấy vợ mừng nên bị cào!
418 – Mai Thảo tứ xứ ba đào
 Hương hồn sấp ngữa chiêm bao bóng mình!
419 – Còn vang chày cối Thậm Thình
Nguyễn Bùi Vợi được chút tình trời ban!
420 – Sẽ còn đọc giữa thiên bàn
Nhiều ý tưởng Nh. Tay Ngàn không quên!
421 -  Nhớ, nhớ nhiều! nhớ Hồng Nguyên
Một bài thơ Nhớ tuổi tên ghi đường!
422 - Hoài Trinh Minh Đức dặm trường
Khuyên người bỏ súng, buông gươm về nhà!
423 – Thế Mạc lặng lẽ rừng xa
Hồ, nguồn, sáo trúc cho ta nhớ hoài!
424 – Vũ Đình Văn chửa nguôi ngoai
Phà qua Long Đại mệt nhoài chiến chinh!
425 – Rời xa cái xứ Thần  kinh
Tôn Nữ Thu Thủy khối tình ở đâu?
426 – Thơ, triết, điện ảnh ông bầu
Đỗ Minh Tuấn phải đáng hầu ông nao?
427 – Một đời lăn lộn Thanh Hào
Dành cho em nhỏ câu nào viết hay!
428 – Lửa rừng sáng đến hôm nay
Thái Giang còn mãi những ngày vinh danh
429 – Trương Vĩnh Tuấn lên non xanh
Thôi thì thơ phú để dành đời sau!
430 – Triều Ân tóc đã phài màu
Vẫn ca ngợi bản càng mau kịp người!
431 – Nguyễn Ngọc Hưng cố dồn hơi
Liệt lưng lăn lộn lọc lời lỏi len!
432 – Chuyện lớn chuyện nhỏ Thợ Rèn
Mắng nhiều vẫn lắm trống kèn vòng hoa!
433 -  Mất công mà đọc Tuyết Nga
Quàng xiên chữ nghĩa chẳng ra thớ gì!
434 – Tô Hà rất trọng thư thi
Cứ tìm mãi chẳng có chi cho mình!
435 – Bao năm tháng Vũ Đình Minh
Đăm đăm ánh mắt hội Lim mơ màng!
436 – Thưa mẹ, thời thế sang trang
Trần Quang Long biết muộn màng viễn vông!
437 – Với cuộc chiến sống hết lòng
Trần Vũ Mai bỗng tay không trở về!
438 – Xuân Tùng thon thót nhớ quê
Bao nhiêu kỷ niệm để tê tái buồn!
439  - Vũ Thị Huyền, nước mắt tuôn
Tầm xuân mưa phấn sợi luồn nhớ nhung!
(còn nữa)
Hà Nội ngày 9 – 5 – 2017
Đ - H

CHÂN DUNG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XVII)
Đỗ Hoàng

440 – Đả Tây đả Nhật đến cùng
Đả mình, Xích Điểu chổi cùn quét sân!
441 – Quách Thoại đời ngắn nửa phân
Nỗi mơ dân chủ, nước dân mạnh giàu!
442 – Trời sinh có ai xấu đâu!
Lệ Khánh vẫn đẹp, dãi dầu đa đoan!
443 – Lê Thanh Xuân biết tính toan
Sách in có phải chỉ toàn thơ đâu
444 – Bùi Kim Anh một hai câu
Dãi dầu bán cái dãi dầu ai mua?
445 – Lê Mimh Hoài quả đong đưa
Người tình sánh trái đất vừa bay lên!
446 – Nguyễn Đức Sơn lập dị tên
Ca dao còn lại sao trên nguồn rừng!
447 – Trần Tuấn Kiệt mới chưa dừng
Cái tài lục bát không ngừng đổi thay!
448 -  Viên Linh viết có lời hay
Với tình quê kiểng mỗi ngày thêm sâu!
449 – Vương Tân yêu đến vạn sầu
Trần ai vướng bận cho rầu nhân gian!
450 – Mở đường vượt suối băng ngàn
Dương  Danh Dũng vẫn lụy sang đò chiều!
451 – Sông La đắm đuối lời yêu
Nghiêm Huyền Vũ có mấy điều cho nhau!
452 - Ở Tây nhiều hơn ở Tàu
Lâm Quang Mỹ véo von màu đồng ca.
453 – Nhạt, sáo, cũ, Bùi Sỹ Hoa
Cũng hô khẩu hiệu xứ Choa từng mần!
454 – Nguyễn Tất Nhiên giả tâm thần
Trốn khỏi cuộc chiến nội thân xéo giày!
455 – Hà Phương cũng ít người hay
Vì không trong đám dại ngây lên đồng.
456 – Trào phúng chẳng đọng một dòng
Lê Khả Sỹ chỉ long bong ngoài đường!
457 – Cao Mỵ Nhân gái phi thường
Làm trượng phu dẹp đoạn trường chiến chinh!
458 – Hà Văn Thể thật thấm tình
Chăm vợ ốm, vợ xem mình người dưng!
459 – Chịu sương móc Huế đã từng
Hoàng Anh Tuấn muốn mưa dừng đạn bom!
460 – Mai Trung Tính xạ trị còn
Nhưng thơ thì vẫn tơ non xanh rờn!
461 – Trần Đức Uyển không thù hờn
Cất ca cùng gió giang sơn thu về!
462 – Bên cầu dĩ vàng tái tê
Hoài Khanh mãi gọi hồn về cố hương!
463 – Nguyễn Nho Sa Mạc khiêm nhường
Mỗi câu chữ nặng đời thường đã qua!
464 – Mai Nam Thắng bọ quê Choa
Đến giờ vẫn cứ tụng ca sáo mòn!
465 – Khánh Chi lầm lũi thân đơn
Chữ câu rời rạc để hồn phiêu di.
.466 – Người ta nhớ Hoàng Trúc Ly
Nỗi sầu ca sĩ cũng vì trao nhau!
467 – Cuộc huyết chiến máu đen màu
Thành Tôn chỉ muốn vì nhau, thương người! .
468 – Thích Nhất Hạnh nối đạo đời
Nhớ thương hoa cải một thời mẹ chăm!
(cón nữa)
Hà Nội ngày 13 – 5 – 2017
Đ – H

CHÂN DUNG THƠ VIỆT (HỖN DANH) ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XVIII)
Đỗ Hoàng
469 – Bút Tre còn đến nghìn năm
Cái thời phải đứng khi nằm yêu thương!
470 – Chia ly máu đỏ chiến trường
Nguyễn Mỹ còn đắng trên đường tha ma!
471 – Viên Linh ta làm thơ ta
Cầu chi lọ mọ, ông bà ở đâu.
472 – Ai chơi xuân, xuân còn lâu
Hà Yên Chi có những câu thanh bình.
473 – Lữ Quỳnh qua lửa chiến chinh
Giờ mong một phút yên bình xóm thôn!
474 – Mường Mán lọc lỏi kép đơn
Phe bại cũng chuộng, phe hơn cũng dùng!
475 – Dô ta, dô tả muôn trùng
Mạnh Lê theo sóng đến cùng suối khe.
476 - Ồn ào sáo rỗng màu mè
Đọc Hoàng Quý có tai nghe chẳng vào!
477 – Tiễn em đi kiếm mấy hào
Cao Xuân Sơn cảm đồng bào long đong.
478 – Đau đời một chút núi sông
Hà Huyền Chi kiếp lưu vong xứ người!
479 – Hà Thượng Nhân trải ngục đời
Biết thương đồng loại dưới trời bơ vơ.
480 – Vương Đức Lệ phận con vờ
Trải mùi ngục thất biết mơ trời tròn!
481 - Nhất Tuấn tên tuổi sẽ còn
Từng câu giữ lại không mòn thời gian.
482 – Đỗ Quyên ồn ĩ lan man
Ba voi không được vá chan canh bầu!
483 – Đỗ Kh đổi nhịp ngắt câu
Sinh ra loại quỷ ba đầu sáu tai!
484 – Mới hồn còn chưa ăn ai
Khế Iêm vỏ mới xin bai xứ miềng!
485 – Tường Linh trải mấy buồn phiền
Ngóng về cố quận thương thêm đò chiều.
486 – Diên Nghị cũng kiếp phiêu diêu
Thương quê tao loạn thêm nhiều khổ đau!
487 – Nguyễn Thái Vận có mấy câu
Mái trường, bản cũ, cây cầu suổi xanh.
488 – Hải Phòng cụ Lê Đại Thanh
Kịch thơ lưu diễn lừng danh nhà nghề.
489 – Tình sầu tiền chiến đam mê
Huyền Kiêu ca chúa ngón nghề cũng kinh.
490 – Anh Vũ đủ việc linh tinh
Điêu khắc thơ báo, khi hình giáo viên
491 – Thương bao thân phận khổ hèn
Đào Minh Lượng ước ma kèn dâng sao.
492 – Diễm Châu dù lạc phương nào
Nối thêm câu chữ mới vào thư thi.
493 – Hòa âm điệu Nguyễn Lương Vy
Một đời đã sống cũng vì thơ văn
694 – Kim Tuấn cho em mùa xuân
Kiệm lời, kiệm chữ trong ngần lời ca!
(còn nữa)
Hà Nội ngày 14 – 5 – 2017
Đ - H


500 - CHÂN DUNG (HỖN DANH) THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI (Phần XIX)
Đỗ Hoàng
495 – Thái Bá Tân thật tài ba
Chỉ dòng năm chữ, phe ta giật mình!
496 – Nguyễn Thị Vinh thời Nhất Linh
Đau đời tao loạn nhân tình thế gian!
497 – Duy Năng chữ có mấy hàng
Chiến tranh bầm chốn địa đàng hoang vu.
498 – Chu Vương Miện thoát ngục tù
Buồn cho chinh chiến mịt mù Á Đông.
499 – Phan Hồng Khánh bao đau lòng
Lớn lên sống trọn giữa vòng đơn côi!
500 – Hoàng Tá có cả cuộc đời
Câu hay chữ tốt dành lời trẻ thơ!
501 -  Trương Xương cũng một ước mơ
Viết cho trẻ là đến bờ yêu thương!
502 – Đinh Đăng Lượng với bản mường
Quả mình thì hái, ngày thường bón chăm.
503- Lâm Quý hạt ngọc Cao Lan
Hồn thơ chắp cánh mây ngàn trắng xa!
504 – Qua Ba Rền nhớ Kinh Kha
Nuốt trôi gian khổ đường ra chiến trường!
                            Hết
Hà Nội 1 giờ sáng ngày 16 tháng 5 năm 2017
Đ - H



Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

306 nhà văn Việt Nam

    

306 nhà văn Việt Nam

Thứ hai - 09/03/2020 12:32
Do Hoang
Lts:
Nước ta ai cũng làm được thơ lục bát, từ thứ dân cho đến ông vua đầu triều. Với quan niệm biên độ Thơ rộng như hôm nay thì người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Làm thơ xuất bản thành tập cũng đến triệu người. Văn độ chừng một phần ba. Trong hàng vạn, hàng triệu người đó, nhà thơ Đỗ Hoàng đã đọc và chọn 810 vị khắc họa chân dung theo thể thơ lục bát, mỗi người 2 câu.
Trước khi công bố tuyển chọn Chân dung 162 vị Văn sĩ Việt đương đại (gồm 108 vị Thơ, 54 vị Văn) xin công bố lại Chân dung 810 vị Văn sĩ Việt đương đại đã qua sửa chữa, thêm bớt lần I (Sẽ có lần sau)
CHÂN DUNG VĂN VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI
CHƯƠNG MỘT
306 nhà văn Việt Nam
Do Hoang 

Lts:
Nước ta ai cũng làm được thơ lục bát, từ thứ dân cho đến ông vua đầu triều. Với quan niệm biên độ Thơ rộng như hôm nay thì người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Làm thơ xuất bản thành tập cũng đến triệu người. Văn độ chừng một phần ba. Trong hàng vạn, hàng triệu người đó, nhà thơ Đỗ Hoàng đã đọc và chọn 810 vị khắc họa chân dung theo thể thơ lục bát, mỗi người 2 câu.
Trước khi công bố tuyển chọn Chân dung 162 vị Văn sĩ Việt đương đại (gồm 108 vị Thơ, 54 vị Văn) xin công bố lại Chân dung 810 vị Văn sĩ Việt đương đại đã qua sửa chữa, thêm bớt lần I (Sẽ có lần sau)

CHÂN DUNG VĂN VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI
CHƯƠNG MỘT
1 – Sáu mươi mới vào Đảng viên
Hoàng Minh Tường chửi Cộng điên nhất đoàn!
2 – Đỗ Chu nhạt nhẽo, xẩm xoan
Chót đời được phiếu bé ngoan Bác Hồ!
3 - Nguyễn Khải biết mình văn nô
Cái tôi đánh mất đội mồ thở than!
4 – Nhờ phiên chợ Giát chiều tàn
Nguyễn Minh Châu thoát khỏi đàn văn ngu.
5 – Nguyễn Thị Ngọc Tú rối mù
Đất làng chưa đáng ba xu một thời
6 – Trần Đình Vân cũng rỗi hơi
Sống như anh viết nhại lời chị Quyên.
7 – Nguyễn Văn Bổng rặt tuyên truyền
Con trâu chắp cánh phi thuyền đằng vân.
8 – Ma Văn Kháng giỏi phân thân
Cưới không giá thú có phần của ma!
9 – Nguyễn Thành Long bị nhạt nhòa
Thôi còn lặng lẽ Sa Pa đỡ rầu!
10 – Doãn Quốc Sỹ nổi địa cầu
Ba sinh hương lửa thần sầu An Nam
11 – Võ Phiến mới thật siêu phàm
Nỗi đau nhân thế, danh càng thơm hơn
12 – Xuân Vũ xương trắng Trường Sơn
Đường đi không đến nỗi hờn máu tuôn!
13 – Nguyên Ngọc lăn lộn bản buôn
Anh hùng Núp lại phải luồn rừng sâu!
14 – Vùng quê yên tĩnh còn đâu
Nguyễn Kiên vác cuốc đi hầu hộ đê!
15 – Đào Vũ rất thạo chém vè
Cái sân gạch để hợp te tanh bành! (*)
---
(*) Bây chừ hợp tác, hợp te
Không có méng vải để che cái lồn! (Ca dao mới)
Hà Nội ngày 18 – 5 - 2017

CHƯƠNG II
16 – Đất mặn lúa nát, cỏ tranh
Chu Văn bão biển tan tành xác xơ.
17 - Động trời vòng tay học trò
Nguyễn Thị Hoàng đốt ra tro luân thường!
18 - Vũ Bằng tình báo văn chương
Miếng ngon Hà Nội khó lường hiểm nguy.
19 – Người mẹ cầm súng Nguyễn Thi
Bắn nhau hết đạn, mẹ đi về trời.
20 – Bất khuất Trần Đĩnh viết lời
Nguyễn Đức Thuận được một thời tiếng tăm.
21 – Hòn đất mũi hô muôn năm
Anh Đức không biết đặt nằm nơi nao?
22 – Lê Văn Thảo, văn thảo nào,
Cơn giông sét đánh lộn nhào trời xa
23 – Nguyễn Quang Lập rặt phe ta
Bị ta nhốt ngục kêu cha cẳng què!
24 – Nỗi buồn cuộc chiến máu me
Bảo Ninh thân phận toét toe một đời!
25 – Trần Công Tấn mộng thần voi
Về già xếp bút sang coi voi thần.
26 – Có được vợ nhặt Kim Lân
Sống hình lão Hạc nhờ chân kịch trường
27 – Cái hom giỏ Vũ Thị Thường
Đựng ếch thì chật, đựng lươn thì dài
28 – Nam Cao xứng bậc đại tài
Ngồi riêng một chiếu giữa đài văn thơ!
29 – Hoa hậu xứ Mường bơ vơ
Phượng Vũ gặp gỡ mấy cơ hội rồi?
30 – Đêm xa Hà Nội một thời
Mai Thảo văn bút rụng rời đến nay!
Hà Nội ngày 22 – 5 - 2017

CHƯƠNG III
31 – Lê Lựu cầm súng liệt tay
Một thời xa vắng dân cày viết văn
32 – Chỉ toàn điên điển, lác năn
Nguyễn Ngọc Tư lại đi chăn vịt đồng.
33 – Hữu Mai vùng trời rỗng không
Cao điểm cuối cùng còn lại mảnh bom!
34 – Lan Khai bị giặc cỏ đòm
Lầm than đến thế vẫn còn lầm than!
35 – Ngọc Giao văn bút kiêu sang
Một thời sáng giá trên đàn văn chương
36 – Hà Nội ba sáu phố phường
Thạch Lam danh tiếng phi thường nước ta
37 – Con đường sáng của mọi nhà
Hoàng Đạo đích thực tài ba lạ lùng!
38 – Vũ Hạnh tình báo nằm vùng
Viết sao cho hết ba cùng văn nhân? (*)
39 – Linh nghiệm nổi tiếng xa gần
Trần Huy Quang chịu mấy lần bút treo.
40 – Mạnh Phú Tư văn nhà nghèo
Mẹ đi làm lẻ gieo neo trọn đời!
41 – Thái Bá Lợi rất xu thời
Cũng nòi nô bút lựa lời nịnh trên
42 – Thúy từng tiểu thuyết nổi tên
Hà Khánh Linh vẫn không quên Huế mình!
43 – Dòng sông phẳng lặng nín thinh
Tô Nhuận Vỹ với cung đình rêu phong!
44 – Bình văn ba cọc, ba đồng
Phan Cự Đệ đặc một dòng bút nô!
45 – Thú hoang chui lủi hải hồ
Nguyễn Thị Thụy Vũ xương khô, cốt tàn!
Hà Nội ngày 24 – 5 – 2017
---
(*) Bao bọn bút bồi, văn bồi làm gián điệp
Bao tác phẩm nghệ thuật biến thành biệt kích
Cuộc đời này đánh đĩ
với văn chương!
( Loài người – Tâm sự người lính – Đỗ Hoàng 1973)

CHƯƠNG IV
46 – Chấp chi những đám văn gian
Thiếu Sơn bút chiến chiếu ngàn ánh sao.
47 – Hải Triều từ thuở xa lâu
Đưa Lầm Than lên tốp đầu văn chương
48 – Cây bút tâm sáng Đỗ Trường
Nhân văn đạt được tấm gương khó tìm!
49 – Hà Minh Đức cũng phê bình
Nhưng thường phê chén những hình ông to!
50 – Nâng bao thân phận chim cò
Sơn Nam nước nổi lò dò len trâu!
51 – Võ Huy Tâm hòn than nâu
Giờ than thổ phỉ đen đầu thảo dân.
52 – Ngổn ngang trần thế thảo dân
Đặng Văn Ký lúc xuất thần hành văn.
53 – Bùi Bình Thi kính tròng xăm
Ký sự Xiêng Khoảng đã tăm tối tàn!
54 – Dương Nghiễm Mậu lên Niết Bàn
Quyết không bẻ bút đi làm công sai.
55 – Hoàng Bình Trọng đói dài dài
Kỹ sư địa chất vướng tài văn thơ.
56 – Trốn vào lịch sử cầu cơ
Hoàng Quốc Hải chẳng ma sờ búa đe
57 – Chí lớn chưa đựng đầy be
Hòa Vang nhân sứ đọc nghe quá chờn!
58 – Phê bình cũng dạng trống cơm
Hồ Sỹ Vịnh một cung đờn văn ôm!
59 – Phất cao một thuở Đồ Phồn
Văn học minh họa tự chôn thần tài.
60 – Đỗ Hoàng phí một thời trai
Để cho Lam Luyến lỡ hai lần đò! (của dân gian)
Hà Nội 24 – 5 – 2017

CHƯƠNG V
61 – Muốn sống mãi với Thủ đô
Nguyễn Huy Tưởng – Vũ Như Tô kịch phường.
62 – Một đời sân khấu Lộng Chương
Loa thành tình sử được bươn chải đời!
63 – Giết nhau đổ loạt xác người
Nguyễn Quang Sáng vẫn nụ cười Ba Phi!
64 – Mùa hè đỏ lửa qua đi
Phan Nhật Nam có còn gì khoe khoang
65 – Sương Nguyệt Minh viết Miền Hoang
Tường trần tơi tác, tan toàn Cộng quân!
66 - Nguyễn Huy Thiệp lúc nổi danh
Bán đứng tên mành, vào nhóm thương gian
67 – Thử lửa trong chốn địa đàng
Thảo Trường xa xót đời tàn máu sôi!
68 – Những ngôi sao thuở xa xôi
Lê Minh Khuê giỏi dùng lời ầu ơ!
69 – Không chồng, không bến, không bờ
Dương Hướng chân vịt lập lờ bến sông!
70 – Dương Thu Hương chí núi sông
Chống Cộng quyết liệt bà không thiết gì!
71 – Trần Thùy Mai khéo vân vi
Thấy người thắng cuộc mình đi treo cờ!
72 – Tuyệt thực để chết vật vờ
Nguyễn Mạnh Côn cũng vì mơ Đại Đồng!
73 – Lạc rừng, ngõ thủng, xà rông
Trung Trung Đỉnh đã hết lòng với văn.
74 – Cha thì phong kiến đại thần
Nguyễn Khắc Phê vẫn có phần Đảng xiên!
75 – Thiếu úy cải tạo Nguyễn Viên (*)
Giải thưởng Nhà nước Triều Nguyên nhận bằng!
Hà Nội 25 – 5 – 2017
(*) Bút hiệu Triều Nguyên

CHƯƠNG VI
76 – Tắt đèn chị Dậu tối tăm
Ngô Tất Tố thương vạn năm phận hèn
77 – Nguyễn Dậu tài đỏ, số đen
Mở hầm gặp phải lũ hèn chơi khăm!
78 – Tường trần chuyện hai nghìn năm
Bùi Ngọc Tấn bị băm vằm tả tơi!
79 – Nổi danh gia phả bằng vôi
Nguyễn Trọng Tân có thư thời đã qua
80 – Nguyễn Hoàng Đức quá tài ba
Dạy cho cái xứ vịt gà triết nhân
81 – Vũ điệu bô Nguyễn Quang Thân
Cũng chút vinh dự đổ phân nhi đồng
82 – Dạ Ngân bé mọn vợ chồng
Rổ rá cạp lại mặn nồng có sao!
83 – Trần Đăng xung trận ào ào
Ký sự Cao Lạng đã vào sử xanh.
84 – Lê Khâm nổ súng tranh giành
Mẫn tôi Phan Tứ dễ thành tình gian!
85 – Mẹ Âu Cơ gửi Y Ban
Gái tơ phải giữ cho chàng tiết trinh
86 – Từ bao chức vị truyền hình
Đến nay chưa thấy Thùy Linh viết gì?
87 – Đã mang tiếng kịch ti vi
Phạm Ngọc Tiến viết phải đì làng Nhô.
88 – Phong Lê cũng dạng phò bô
Khen thơ không phải của bồ mới cay
89 – Xe cày ra trận mát tay
Mai Văn Tấn chút gặp may vào nghề.
90 – Tô Hoài, O chuột, Giăng thề
Dế mèn viết ký say mê bao người!
Hà Nội ngày 29 – 5 – 2017

CHƯƠNG VII
91 – Dương Thị Xuân Quý một thời
Hạnh phúc mất mát thì đời vui chi!
92 – Vi Huyền Đắc, sáng tộc Vi
Kim tiền bất tử được ghi sổ vàng
93 – Đoàn Giỏi đất rừng phương nam
Trang văn sống động lay ngàn con tim.
94 – Thủy Thủ chiếc guốc xinh xinh
Vẫn còn lưu dấu ảnh hình hôm nay.
95 – Cái thời sống chết mặc bay
Phạm Duy Tốn thức tỉnh lay phố phường.
96 – Văn ươn, báo liếp Hồ Phương
Người tốt, việc tốt nêu gương phong trào!
97 – Biết tâm địa ếch, rắn, cào
Ngô Ngọc Bội vét sạch ao làng truyền.
98 – Ngụy Ngữ con thú tật nguyền
Sinh thời dân chủ sống thêm đến giờ.
99 – Đi bước nữa nỗi bơ vơ
Nguyễn Thế Phương lắm buồn trơ muộn màng.
100 – Một miền hỗn chiến sơn tràng
Trịnh Thanh Phong đấu ma làng xưng vua.
101 – Học Phi chỉ viết thi đua
Một chiều ta thắng, địch thua hết bài
102 - Ăn mày dĩ vãng Chu Lai
Chỉ loanh quanh phố dẫu xài ti vi
103 – Lê Khánh có một đêm đi
Đã lừng danh tiếng đương thì văn chương!
104 – Hoàng Châu Ký chuyên kịch trường
Nghêu, Sò, Ốc, Hến; Trưng Vương diễn trò.
105 – Cường hào, ngõ hẻm, ngoại ô
Nguyễn Đình Lạp đất Thủ đô văn tài!
Hà Nội 30 – 5 – 2017

CHƯƠNG VIII
106 – Tào Mạt giỏi diễn tấu hài
Bài ca giữ nước dám ngài nào đe?
107 - Nguyễn Xuân Khánh sợ gậy ghè
Lạy Hồ Quý Ly chở che an toàn
108 – Đoàn Lê cũng phận đa đoan
Xóm Chùa trinh tiết lăng loàn pha phôi.
109 – Đặng Ái đã hết lửa rồi
Không hăm hở viết như thời đạn bom.
110 – Minh Chuyên đạo diễn ống nhòm
Vẫn mơ tăm tiếng lúc còn viết văn!
111 - Bụi đời lăn lóc Mạc Can
Phóng lao tấm ván xoay ngang phận hèn!
112 – Đỗ Thúc Vịnh hy vọng kèn
Cái mùa ảo ảnh ánh đèn mênh mông
113 – Kỳ Văn Nguyên nuôi viễn vông
Tìm về sinh lộ lại không có đường!
114 – Người tỵ nạn bao đau thương
Lê Vĩnh Hòa hiến máu xương vì người!
115 – Hoàng Thái Sơn viết văn xuôi
Cũng là cây bút hiếm hoi Quảng Bình
116 – Đảo một mình của Lê Minh
Bài học cho đám hậu sinh vào nghề
117 – Nửa đêm thức giấc tỉnh mê
Trần Phong Giao giữ mộng quê vân mồng!
118 – Mưa trong sạch có biết không?
Thế Uyên chua chát đêm đông tối mò
119 – Nguyễn Đăng Điệp tiến sỹ bò
Một tay chép sớ văn no hiện hành!
120 – Mảnh đất lắm người hôi tanh
Thao Trường bỏ súng liên thanh về làng!
Hà Nội ngày 4 – 6 – 2017

CHƯƠNG IX
121 – Lừng danh Tam Vũ – Tam Lang (1)
Tắt lửa lòng chút hèn sang thiết gì!
122 – Y Uyên đời lính bỏ đi (2)
Sườn non tượng đá trơ lì rêu rơi
123 – Ái Sơn nặng nghiệp phấn vôi
Cải lương đất Bắc, ai ngồi chịu xem?
124 – Bửu Tiến đuổi theo trống kèn (3)
Hoàng cung bỏ ngõ đỏ đen kịch nghề!
125 – Anh Động chẳng khen, chẳng chê
Ven rừng tràm ngóng chim về trú đông.
126 – Đời ngắn ngủi Chu Cẩm Phong
Vài dòng ghi chép đau lòng người sau.
127 - Nguyễn Đức Quỳnh biết tìm đâu (4)
Không nhà bốn biển từ lâu mịt mờ!
128 - Lăn lóc lựu đạn, cán cờ
Mai Ngữ mơ tưởng chuyện đùa súng gươm.
129 – Cắm vùng mỏ Lý Biên Cương
Bụi than câu chữ thương trường nổi nênh
130 – Miền biên ải Mã A Lềnh
Vùng cao rong ruổi ghập ghềnh chẳng sao.
131 – Nguyễn Khắc Phục chút tự hào
Thơ ca, văn vẻ, kịch nào cũng chơi.
132 – Nhật Tiến lưu lạc xứ người (5)
Tuổi thơ bất hạnh muôn đời xót xa.
133 – Đỗ Phương Khanh văn việc nhà (6)
Thành danh Nhật Tiến cũng là công chung.
134 – Kịch, chèo thơ phú đã từng
Lưu Quang Thuận được vẫy vùng mấy niên.
135 – Vết thương dậy thì không quên
Túy Hồng vang dội tuổi tên lẫy lừng! (7)
Hà Nội ngay 8 – 6 – 2017
---
(1) Tam Lang tên thật Vũ Đình Chi, cùng Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng – Tam Vũ nổi tiếng một thời
(2) Y Uyên, sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, chết trận khi còn trẻ
(3) Bửu Tiến dòng dõi Hoàng tộc, hay gọi “ Mệ Tiến” hay “Tú Vịt” theo Cách mạng từ tuổi thiếu niên không vào được Đảng Cộng sản Việt Nam
(4) Nguyễn Đức Quỳnh, sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa
(5) Nhật Tiến, nhà văn nổi tiếng trước 1975 ở Sài Gòn
(6) Đỗ Phương Khanh, nhà văn, vợ Nhật Tiến
(7) Túy Hồng một trong ngũ nữ tên tuổi trước 1975 ở Sài Gòn.

CHƯƠNG X
136 – Anh Pha đến bước đường cùng
Nguyễn Công Hoan ngỡ đứt từng thớ gân!
137 – Nguyên Vũ xông lên đầu quân (1)
Về từ cõi chết tinh thần tiêu tan.
138 – Cao Duy Sơn người lang thang
Chuyện cũ không mới bản làng nay xưa.
139 – Đức Ánh biển tình đong đưa
Vừa thô, vừa kém phơi mưa ngoài đồng!
140 - Hải Hồ chỉ hô xung phong
Chiến hào ca hát cờ hồng uy nghi.
141 – Tâm hồn cất cánh được chi
Hà Bình Nhưỡng chỉ chép ghi báo tường.
142 – Băng Sơn người đã khói sương
Chẳng ai nhớ ký con đường Thủ đô.
143 – Cao Năm ca ngợi Bác Hồ
Thuở còn thiếu sắn, thiếu ngô cầm lòng!
144 – Bên sông Trà Lý sóng cồn
Bùi Thanh Minh biết vái hồn ông cha
145 – Cao Linh Quân gọi Thiên Hà
Đáng ra chỉ gọi làng ta đi chùa.
146 – Hồng Nhu đàn vịt vừa mua
Thả ra đầm phá, ruộng chua, nước phèn.
147 – Hữu Phương đã có lời khen
Đời cát chuyển thể được lên truyền hình!
148 – Thái Vũ cũng biết khôn tinh
Cứ chơi lịch sử phê bình vua quan
149 – Lê Văn Tiến, nước dân an (*)
Muốn mong cái xứ Việt Nam mạnh giàu.
150 – Bùi Công Hùng loại tóc râu
Giỏi nghề săn đón, từ lâu bút bồi!
Hà Nội 11 – 6 – 2017
(*) Bút hiệu là Như Phong thuộc Sài Gòn cũ

CHƯƠNG XI
151 – Bùi Hiển viết thời cái tôi
Tiếng tăm hơn hẳn cái thời của ta!
152 – Đoàn Tử Huyến dịch tiếng Nga
Trái tim chó úm ba la nhân quần!
153 – Linh Bảo gió Bấc, mây Tần
Tàu ngựa cũ cứ lịm dần nước phi.
154 – Mùi giây cháy chậm thơm gì
Cao Tiến Lê hãy quên đi chiến hào
155 – Đào Hồng Cẩm thuở tự hào
Chị Nhàn nổi gió phong trào kịch khen!
156 – Xuân Đức văn báo đàn em
Mở được cửa gió mặt vênh váo đời!
157 – Quý Thể sống giữa mùi người
Lại nghe mùi cọp rụng rời nhân sinh! .
158 – Võ Thị Hảo viết hết mình
Phơi trần những thứ vô hình nhiễu nhương.
159 – Võ Hồng lặng lẽ đời thường
Cánh chim bay mỏi khó lường hiểm nguy!
160 – Lời nguyền hai trăm năm ni
Khôi Vũ muốn giữ những gì cho quê
161 – Phạm Đình Trọng tìm nẻo về
Ngọn cờ Dân chủ thơ đề trên cao!
162 - Cao Huy Đỉnh đáng tự hào
Văn minh xứ Ấn chảy vào tim ông.
163 - Trần Quốc Tiến con ruộng đồng
Mò cua bắt ốc cho dòng văn xuôi.
164 - Thái Hằng mây núi khơi vơi
Bão Vũ một nỗi ngậm ngùi cõi riêng.
165 – Vũ Trọng Phụng đời số đen
Giông tố số đỏ xây nên tượng đài!
Hà Nội ngày 12 – 6 -2017

CHƯƠNG XII
166 – Khái Hưng tỏ mặt anh tài
Mơ tiên hồn bướm ở ngoài nhân gian
167 – Lột xác mình tận vùng than
Võ Khắc Nghiêm cánh chim ngàn bay cao!
168 – Năm bảy lăm sống thế nào?
Nguyễn Trí Huân quá tự hào quân ta!
169 – Như Phong ngòi bút tụng ca
Phê bình vừa ý cho nhà mình ưa.
170 – Chim bay về núi sớm trưa
Cao Duy Thảo cố viết cho vừa ấm êm.
171 – Hà Đình Cẩn khúc ghập ghềnh
Đa thê văn báo lênh đênh rã rầu.
172 – Phạm Quang Trung tiến sỹ trâu
Có tiền, có chức thì bâu khen bình!
173 – Trùng Dương đổi cả đời mình
Cho câu văn được hiển linh phận hèn.
174 – Chu Tử biết yêu và ghen
Ngán cho bao nỗi đua chen giữa đời.
175 – Đỗ Quang Tiến viết văn xuôi
Tác phẩm quên béng từ hồi nảo nao.
176 – Vượt rừng thác dội ào ào
Hà Lâm Kỳ mở lối vào non xanh.
177 – Hương rừng, tiếng hổ thất thanh
Hà Đức Toàn được ghi danh vào nghề.
178 – Hàn Thế Du mãi say mê
Lưu Bình Dương Lễ chèo quê kiếp mình.
179 – Quo Vadis dịch tài tình
Nguyễn Hữu Dũng vào tiến trình văn thơ.
180 – Trầm Hương người đẹp Tây Đô
Lăn lộn viết lách chẳng chừa nơi nao.
Hà Nội ngày 13 – 6 – 2017

CHƯƠNG XIII
181 – Nguyên Hồng phận hẩm lao đao
Tám Bính bỏ phố trốn vào rừng sâu!
182 – thay Trần Đình Sử đâu
Chưa tường chữ nghĩa, cú câu là gì!
183 – Chuyện đường rừng lắm người ghi
Lý Văn Sâm sống cũng vì văn nhân
184 – Nguyễn Thụy Long lính không quân (1)
Loạn mắt nhung đưa tấm thân phía trời.
185 – Nguyễn Thị Thu Huệ ôi ơi
Thiếu tình, cạn ý, nhạt lời hành văn!
186 – Thương trường, gạo củi khó khăn
Nguyễn Quang Hà viết như năm ở rừng!
187 – Con gà ống của Tường Hùng
Sống trong tre ống thiếu từng chút hơi.
188 – Học nghề muốn bay lên trời
Nguyễn Minh Ngọc biết rèn lời, sửa câu!
189 – Những truyện của Hồ Hải Âu
Cũng nêu lên được nỗi sầu niềm thương
190 – Văn Biển thấm thía chính trường
Văn siêu thoát, vua cải lương thá gì!
191 – Nguyễn Đăng Mạnh sợ bị đì
Khen chê khuôn phép những gì đã khen.
192 – Hoàng Ngọc Hiến gặp hồi đen
Hiện thực phải đạo chúng lèn xơ gân.
193 – Xuân Thiều cây bút quân nhân
Giã từ gió cát chia phần mặc ai.
194 – Dũng Hà không có văn tài
Gươm dao súng ống làm bài hát ca
195 – Lăn lóc khu Sáu Nam Hà
Nghìn trang sách cũng chỉ là ngôn tuyên!

Hà Nội ngày 13 – 6 – 2017
---
(1) Cháu ruột của Nguyễn Bá Học mất 2009 tại Sài Gòn

CHƯƠNG XIV
196 – Lê Văn Trương không thể quên
Hai trăm tiểu thuyết làm nên văn tài.
197 – Đồng gió của Ngô Khắc Tài
Như mơ thấy bướm hình hài chân quê.
198 – Đức Ban thoát được bùn đê
Là nhờ quyết chí học nghề viết văn!
199 – Câu thơ yên ngựa nhọc nhằn
Hoàng Yến chán bọn thằn lằn, dế giun.
200 – Miền đất lửa đầy tro mun
Nguyễn Sinh một thuở được đùn lên cao.
201 – Trang 17 đáng tự hào
Thế là Nhật Tuấn lặn vào lặng im.
202 – Mới vào đời đã mất trinh
Hà Minh Tuân sóng tội tình đẩy đưa!
203 – Hoàng Văn Bổn nhớ người xưa
Tấm lòng thanh sạch nắng mưa rỡ ràng!
204 - Xứ núi nhớ Hoàng Đình Quang
Cánh đồng lưu lạc lệ tràn thấm mi.
205 – Chuyện từ xóm thợ Trường Thi
Hoàng Ngọc Anh viết cũng vì công nông.
206 – Sao mai lấp lánh trên đồng
Lê Nguyên Ngữ biết cầm lòng viết văn.
207 – Độc hành đường bộ khó khăn
Lê Bầu ngán ngẫm bọn trăn rắn chồn.
208 – Kim Nhất ma núi gọi hồn
Câu văn như có mây cồn, thác rung.
209 – Còn gốc tăm tối cuối cùng
Khuất Quang Thụy ước quét vùng tối tăm!
210 – Nỗi chết không rời Duy Lam (*)
Đọa đày cái xứ An Nam lâu rồi!
Hà Nội ngày 14 – 6 – 2017
(*) Cháu Nhất Linh

CHƯƠNG XV
211 – Hoài Thanh nổi tiếng muôn thời
Thi nhân xứ Việt để đời ghi danh.
212 – Anh hùng chín tầng mây xanh
Nguyễn Thành Chơn hình tượng thành Ngộ Không.
213 – Nửa đêm thức giấc trời trong
Trần Phong Giao một chút lòng tri âm.
214 – Thượng Đức súng nổ, bom gầm
Nguyễn Bảo ghi lại vết bầm thịt da.
215 – Người Anh, người Pháp, người Nga
Biết Ngô Tự Lập hơn là An Nam.
216 – Đêm đêm núi thức không màn
Lữ Huy Nguyên đưa trâu đàn về xuôi
217 – Núi rừng mở hội vui rồi
Ngọc Tự biết lựa thay lời bản buôn.
218 – Hoàng Ngọc Hà, hoàng hôn buồn
Một thời quê kiểng luôn luôn hận sầu!
219 – Nguyễn Đỗ Phú đêm đợi tàu
Rồi xuống ga lẻ biết đâu mà tìm.
220 – Lẽ thường chạy trốn đời mình
Trần Chinh Vũ muốn ghi hình dựng xây.
222 – Trần Hữu Lục chiếc bóng gầy
Hai bên được sống một bầy như nhau.
223 – Tạ Duy Anh khúc dạo đầu
Đi tìm nhân vật ngày thâu đêm dài!
224 – Trái tim phiêu bạt như ai
Phan Cao Toại viết cho ngài hủi phong.
225 – Người viễn khách chốn mênh mông
Nghiêm Xuân Hoàng biết trống không đời tàn.

Hà Nội ngày 14 – 6 – 2017
CHƯƠNG XVI
226 – Đặng Thai Mai xứng Niết Bàn
Cũng nhờ tài trí hơn ngàn năm qua
227 – Ngô Thảo khen ngợi quân ta
Còn bầy quân địch mặc cha xác mày!
228 – Kẻ ma làm như ăn mày
Trần Kim Trắc có những ngày đảo điên
229 – Nổi nhờ tiểu thuyết tên Quyên
Nguyễn Văn Thọ vẫn không quên đảng mình.
230 – Báu vật đến đàn hương hình
Trần Đình Hiến lột nội tình Trung Hoa.
231 – Phạm Mạnh Hùng dịch tài ba
Đọc Việt hơn đọc tiếng Nga nhiều lần!
232 – Triệu Bôn mầm sống hiến thân
Thoát khỏi cuộc chiến tâm thần bao phen.
233 – Vũ Bão một thời ho hen
Mãi rồi thời thế cũng chen đến bờ.
234 – Nguyễn Nhật Ánh viết trẻ thơ
An toàn tương đối ai sờ đến tai.
235 – Quê ta còn đói dài dài
Ngã ba Trọng Hứa đang mài mực thuê.
236 – Trịnh Đình Khôi cán cờ tre
Phất lên bao lũ ma bè chết ngay.
237 – Mùa hoa dẻ thuở đắm say
Văn Linh mới chớm chặt ngay tội tình!
238 - Giấc mơ bay của Viết Linh
Cũng không có cánh tàng hình nơi nao?
239 – Vũ Đình Long quá tự hào
Chén thuốc độc chúng ném vào dân ta.
240 – Người im lặng từ xưa xa
Mặc Đỗ mong muốn thoát ra đường hầm.

Hà Nội ngày 14 – 6 -2017
CHƯƠNG XVII
241 – Thanh Tịnh ngậm ngải tìm trầm
Bao nhiêu ngải đắng nảy mầm cố hương.
242 – Nguyễn Hiếu lực sỹ văn chương
Xúc ngàn tấn chữ mở đường người qua.
243 – Trần Hoài Dương đến nơi xa
Tuổi thơ trong sáng cho ta sống lành.
244 – Những chiếc lá thu Bích Ngân
Biết bao trăn trở phân thân phiêu bồng.
245 – Cuộc kiếm tìm thật mênh mông
Hồ Anh Thái có vạn dòng đã in.
246 – Hai người về bản lưu hình
La Quán Miên muốn văn mình người nghe.
247 – Hoàng Quảng Uyên vượt suối khe
Non ngàn đồng vọng tiếng ve cuối chiều
248 – Hà Ân ông trạng thả diều
Thay vua để nói những điều dân hay.
249 – Không chốn nương thân đêm ngày
Lê Sơn dịch để dân cày được xem.
250 – Kịch, phim, báo Nguyễn Anh Biên
Ghi xong diễn vỡ bị liền quên đi.
251 – Ông Văn Tùng viết tì tì
Suốt đời lận đận cũng vì thơ văn!
252 – Sơn Tùng, Bác Hồ muôn năm
Ai bàn hay dở chuyện trăm nghìn đời!
253 – Phương Lựu chữ nghĩa hơn người
May còn Hán học, tùy thời phải theo.
254 – Bếp lửa đêm rừng vắng teo
Trần Hữu Tòng vượt suối đèo thắp lên.
255 – Người không chịu chết kém hèn
Vũ Khắc Hoan thổi giọng kèn phát ban.

Hà Nội ngày 14 – 6 – 2017
CHƯƠNG XVIII
256 – Tố Tâm tiểu thuyết nước Nam
Hoàng Ngọc Phách giữ thời gian rộng dài
257 – Một thời bên ngoài cuộc đời
Vũ Huy Anh ngợi ca người chân tu
258 – Vẫn còn màu tím hoa mua
Nguyễn Thị Như Trang mới vừa ghé sang.
259 – Ngược chiều đồng vọng thôn trang
Hồng Phương Nguyễn Nhậm trình làng mấy đon.
260 – Chiến chinh thuở ấy mỏi mòn
Mai Tiến Nghị viết lại còn xót xa.
261 - Phạm Viết Đào, vua tặng hoa
Dịch Ru, tiếng họ ra ta mới tài!
262 – Bê Trọc năm tháng dài dài
Phạm Việt Long chép lại vài gian truân.
263 – Trăm năm Puskin từ trần
Thúy Toàn chuyển dịch ông gần bên ta.
264 – Hồn biển gọi giữa bao la
Nguyễn Văn Đệ đẩy thuyền ra rước vào.
265 – Rừng động hổ thét, thác trào
Mạc Phi một thuở tự hào nhớ ghi!
266 – Thế giới lầm lạc đen sì
Võ Thị Xuân Hà chép ghi chuyện đời
267 – Phạm Thường Khanh rất kiệm lời
Hang hùm nọc rắn chuyện đời rối reng.
268 – Hoàng Tích Linh nghiệp bông phèng
Cơm mới là thực xin xem lại mình
269 – Trong làng ngoài xã rập rình
Vũ Xuân Tửu có người xinh tìm về!
270 – Bích Thuận quyết tử vì quê
Mùa thu thiếu nữ giữ lề nếp xưa.

CHƯƠNG XIX
271 – Bài ca người mẹ con thưa
Đặng Thanh Hương cuộc đời chưa cạn lời.
272 – Khúc đồng dao lấm láp rồi
Kao Sơn lại biệt phương trời xa xăm.
273 – Cao Hạnh huyền thoại đang rằm
Vú cát mạch chảy sữa ngầm chứa chan!
274 –Tình yêu ký ức sang trang
Vẫn bền bỉ Hoàng Lại Giang viết bài.
275 – Chân tình trang viết Thiếu Mai
Đôi bờ hát gửi đến ai mặn nồng.
276 – Trần Bạch Đằng, bác Sáu Rồng
Bài ca khởi nghĩa theo dòng Đồng Nai.
277 - Trần Độ xứng bậc anh tài
Anh bộ đội thật không ai sánh bằng.
278 – Cải lương có Trần Hữu Trang
Đời cô Lựu được cả làng say mê.
279 – Xuân Cang trang trải nhiều nghề
Dấn thân tiểu thuyết mới về nghiệp văn.
280 – Phạm Khắc Hòe số mần quan
Cách mạng, phong kiến dùng sang giống dòng.
281 – Đình Kính lăn lộn biển đông
Đưa tàu không số cho đồng bào coi
282 – Đặng Thư Cưu biết theo thời
Về Cách mạng viết được lời văn in.
283 – Trải qua trận mạc oàng ình
Đỗ Kim Cuông chút phần mình thi thư.
284 – Phụ nữ có mấy người hư?
Đỗ Thị Hiền Hòa khổ như bạn bầu.
285 – Tây Hồ nổi sóng từ lâu
Văn Vinh mồ mả vít đầu xuống ao.

CHƯƠNG XX
286 – Nghiệp văn cũng lắm ba đào
Nguyễn Ngọc Liễn tìm lối vào sách ta.
287 – Từng trang viết mực xót xa
Nguyễn Thị Phước nối đời hoa với người.
288 – Nguyễn Bản đặc sắc chữ lời
Chất văn, giọng bút tuyệt vời trở lên.
289 – Trần Hiệp cũng nổi tuổi tên
Dòng sông huyền thoại xanh miền Thanh Hoa.
290 – Kiều Vượng Thanh Hóa quê choa
Cuộc đời thầm lặng nhưng mà có danh!
291 – Chu Hồng Hải phận mỏng manh
Những ngày đang sống đã thành nghĩa ơn.
292 – Kịch Chu Ngọc vẫn xanh rờn
Cô Thục sống đẹp, oán hờn bỏ quên.
293 – Hồ Tĩnh Tâm qua bao miền
Lại về am tiểu ông Hiền tầm sư
294 - Tô Ngọc Hiến, người kiểm tu
Mà loài rắn rít vẫn bu đầy đời!
295 – Tô Hoàng ngửa mặt kêu trời
Bao thương đau của kiếp người sơ sinh
296 – Trường Lưu cũng viết phê bình
Nhưng khen những cái định hình phỗng rơm!
297 – Phạm Tú Châu chắt hương thơm
Trung Việt văn cổ nguồn cơn cội cành
298 – Phạm Hoa đời lính mong manh
Miền xa thẳm cũng nên thành nhớ thương
299 – Mặt thật, mặt giả phải lường
Thái Doãn Hiểu sáng con đường văn thơ
300 - Giàu sang, phú quý mộng mơ
Vi Hồng cọn nước đợi chờ giàng trao!

CHƯƠNG XXI
301 – Phạm Thanh Khương hồn núi cao
Men chiều mở nút, đường vào bản xa
302 – Chiến chinh làng nát, tan nhà
Phiêu linh Nguyễn Một lệ hòa trang văn.
303 – Đàm Quỳnh Ngọc vượt khó khăn
Chuyện tình thế kỷ những năm tháng sầu.
304 – Luật đời cha con còn lâu
Nguyễn Bắc Sơn muốn xử mau về làng.
305 - Nguyễn Hiệp, giun dế cưu mang
Đất trời Bình Thuận cát rang còn dài.
306 – Con rồng huyền thoại phôi phai
Hoàng Tiến, Hà Nội đền đài của dân!
Hết
Hà Nội 15 giờ 7 phút ngày 14 tháng 6 năm 2017
Đ - H

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

Gửi quân dân Đồng Tâm - Thơ Lục Du


ĐỖ HOÀNG
GỬI VỀ ĐỒNG TÂM CHIA SẺ NỖI ĐAU  QUÂN DÂN

春日雜興
夜夜燃薪煖絮衾,
禺中一飯值千金。
身為野老已無責,
路有流民終動心。

XUÂN NHẬT TẠP HỨNG
Dạ dạ nhiên tân noãn nhứ khâm,
Ngung trung nhất phạn trị thiên câm (kim)!
Thân vi dã lão dĩ vô trách,
Lộ hữu lưu dân, chung động tâm!

Dịch nghĩa:
CẢM HỨNG VẶT NGÀY XUÂN
Đêm đêm đốt củi sưởi ấm chiếc mền bông,
Bữa cơm non trưa đáng giá nghìn vàng!
Đã làm ông lão nhà quê, thân mình không còn trách nhiệm gì nữa,
Nhưng thấy ngoài đường có dân liếu xiêu, lòng ta vẫn thổn thức.

Dịch thơ:

CẢM HỨNG LẶT VẶT TRONG NGÀY XUÂN
Đêm đêm đốt củi sưởi mền bông
Một bữa cơm trưa vạn lạng ròng
Ông lão nhà quê không việc xóm
Thấy dân tan nát quá đau lòng.

Đỗ Hoàng dịch năm 1972, cao điềm chốt 280, biên giới Việt - Lào