Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

Dịch thơ Việt ra thơ Việt (tiếp theo)



Nguyễn Khoa Điềm

Nguyên bản

ANH ĐỢI (*)

Đến sớm một ngày
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh đợi

Đánh đổ một đời
Cuối đất cùng trời
Anh đợi

Anh tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương xanh thẳm
Thương nhớ bồi hồi
Anh đợi

Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều bạc tóc
Thương nhớ lao lung
Một thời trận mạc
Một thời cấy trồng
Anh là hạt thóc
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông

Còn chăng điều tốt
Trong cuộc đời này?
Còn bao nông mặn
Em dành hai ta?
Ngàn năm, trăm năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay
Đường xa để lại
Anh còn ngoái lại
Những lời hôm qua:
          Anh đợi!
Ngày 27 – 9 -2006

Nhà thơ Vũ Quần Phương có bài Đợi
“Anh đứng một giờ
Đất lạ thành quen”
Một sự phát giác từ hiện thực, rất hay, ai cũng biết  nhưng không ai nói được. Bài Anh đợi của Nguyễn Khoa Điềm vô duyên hết chỗ nói. Nó vừa quê, vừa cổ lỗ sỉ, không có phát hiện gì mới, lại dưới cả vè thì độc giả làm sao chấp nhập được!

Đỗ Hoàng Tạm dịch qua vè truyền thống người Việt:

VÈ ANH ĐỢI

Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi.
Đến sớm một ngày
Không thì trời tối.
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh chờ, anh đợi

Anh tìm, tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương sáng tối
Thương nhớ bồi hồi
Anh chờ, anh đợi.

Vở sách trôi nổi
Hai tay bụi trần
Núi cao anh lần
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều tóc rối
Thương nhớ lao lung
Chiến trường lạc lối
Một thời cấy trồng
Anh hạt thóc thối
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông!

Còn chăng điều tốt,
Trong cuốc đời này?
Còn bao nồng mặn
Dành ta, ai hay?
Ngàn năm, ngàn năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay.
Đường xa để lại
Anh ngoái lần này,
Những lời hôm qua!
Vẫn còn chói lọi!
Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi!

Hà Nội ngày 29 – 1 - 2012


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Hoàng Phủ Ngọc Tường xứng đáng giải Nobel!

NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG XỨNG ĐÁNG GIẢI NOBEN (tiếp)

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường dòng dõi trâm anh thế phiệt, con nhà nòi (Tổ là Hoàng Hữu Xướng, Tuần phủ Hà Nội), bản chất thông minh, dĩnh ngộ (giải thưởng học sinh giỏi tốt nghệp cấp 3 – PTTH nay, của Ngô Tổng thống), hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến bậc nhất khu vực (Việt Nam Cộng Hoà) kết hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ cứu nước,
Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành nhà văn, nhà thơ tài hoa hàng đầu cõi Việt với bút lực dồi dào, trác việt ở sự từng trải uyên thâm hiếm có: Bút ký Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên dòng sông, Hoa trái quanh tôi, Hoa hồi xứ Lạng, Hỏi non mượn đá để ngồi, Người ham chơi (Nhàn đàm)..., xứng đáng giải Nô- ben văn chương!
Đỗ Hoàng sưu tầm và giới thiệu
a H p N Tuong
a H p N Tuong
   NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG XỨNG ĐÁNG GIẢI NOBEN (tiếp)
  Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường dòng dõi trâm anh thế phiệt, con nhà nòi (Tổ là Hoàng Hữu Xướng, Tuần phủ Hà Nội), bản chất thông minh, dĩnh ngộ (giải thưởng học sinh giỏi tốt nghệp cấp 3 – PTTH nay,  của Ngô Tổng thống), hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến bậc nhất khu vực (Việt Nam Cộng Hoà) kết hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ cứu nước,
Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành nhà văn, nhà thơ tài hoa hàng đầu cõi Việt với bút lực dồi dào, trác việt ở sự từng trải uyên thâm hiếm có: Bút ký Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên dòng sông, Hoa trái quanh tôi, Hoa hồi xứ Lạng, Hỏi non mượn đá để ngồi, Người ham chơi (Nhàn đàm)..., xứng đáng giải Noben văn chương!

Đỗ Hoàng sưu tầm và giới thiệu


NHẬT KÝ ANNE FRANK
 

   Tôi đã đọc Nhật ký Anne Frank đâu quãng năm 60, trong sách Livre De Poche và cũng hồi đó đã xem cuốn phim mang cùng tên; mấy chục năm qua tưởng như cũng gặp lại Anne trong những phút nản lòng. Và cũng không ngờ, bây giờ tôi đến tận căn giác này của Anne ở số 263 phố Prinsengracht – Amstenrdam nơi Anne đã ẩn náu suốt hai năm trước nạn khủng bố của bọn phát xít chiếm đóng, và đã hoàn tất trên giấy vở học trò cuốn nhật ký nổi tiếng của một cô bé 14 tuổi.
  Tháng 7 – 1942, khi nạn truy sát người Do Thái trở nên hét sức căng thẳng, ông Otto Frank quyết định đưa vợ và hai con gái (Magorrgot và Anne) rút vào sống bí mật trong phần sau của ngôi nhà này, được ngăn cách quầy hàng phía ngoài bằng một kệ sách dùng để nguỵ trang lối đi vào bên trong. Trên tường nơi căn buồng dành cho những người lớn vẫn còn lưu lại tấm bản đồ  vùng Normandie mà ông Otto dùng để theo dõi cuộc tiến quân của quân Đồng minh sau ngày D, cùng những vạch kẻ ghi dấu chiều cao của hai cô bé. Buồng của Anne ở ngay cạnh, trang trí bằng những tấm hình tài tử màn bạc dán trên tường, cùng với chiếc bàn nhỏ Anne vẫn ngồi viết nhật ký. Một thang gồ dẫn lên buồng dành cho gia đình Van Dean, có cái bếp lò dùng chung cho mọi người, ở đó người ta nấu nướng, ăn học, đọc sách và tập thể dục. Anne đã viết về gian buồng này: “Lên khỏi thang gác người ta ngạc nhiên thấy thật nhiều không gian và nhiều ánh sáng trong ngôi nhà cũ kỹ đứng bên một dòng kênh”. Kế bên là buồng của Peter (nhà Van Dean), buổi tối có thể mở hé cửa để được thoáng chút khí. Trên cùng là phòng xép sát mái nhà, với cái vựa cất thực phẩm dự trữ cho tất cả những người đang sống bí mật. Anne rất thích trèo lên nằm thu mình ở gác xép này, đăm đăm nhìn con gà trống trên quả cầu vàng trên  nóc nhà thơ thành phố; vào ngày nắng nó luôn hiện ra chói lọi trên nền trời. Đây là mảnh đất duy nhất của thế giới bên ngoài mà cô bé có thể nhìn thấy, suốt hai năm nằm nép mình chờ chết trong bóng tối mái nhà. Do sự phản bội của một người giúp việc, cuối cùng cái ổ Do Thái tội nghiệp kia bị khám phá và hốt đưa vào trại tập trung. Ông cụ Otto Frank là người duy nhất sống sót sau chiến tranh. Cả Anne và Margot đều đã chết trong trại Bergen – Belsen chỉ vài tuần lễ trước ngày quân Đồng Minh đến giải phóng khu trại. Già Otto trở về lang thang trên những đống ngỗn ngang của ngôi nhà cũ, nhặt lên cuốn vở bìa màu xanh lá cây, chính là cuốn nhật ký của Anne để lại.
  Nhật ký trải qua hai năm sống bí mật, tả lại sinh hoạt hàng ngày của một gia đình Do Thái trong căn buồng làm chỗ ẩn trốn, nỗi cô đơn của một cô bé bị mất hết quan hệ với thế giới và nỗi lo sợ bị người Đức khám phá. Điều cao quý đã tạo nên giảtị nhân  bản hiếm có của cuốn nhật ký, ấy là dù sống mấp mé bên cõi chết, trong tình cảm và ý nghĩ của Anne Frank tuyệt nhiên không hề gợn lên chút thù hận; mà ngược lại, trên từng trang toả sáng một tâm hồn nhân hậu, với hy vọng, yêu thương và nguyện cầu.
 Ở Viện Bảo tàng lịch sử Amsterrdam, tôi chạm phải pho tượng đồ sộ của Goliath, vết sự thờ phụng người khổng lồ những dân tộc Bắc Âu. Ừ nhỉ, từ lúc nào con người thôi sùng bái những người khổng lồ? Với tôi, ấy là vào mùa thu năm 12942 giữa thời bạo liệt nhất của cuộc Thế chiên, một cô bé mảnh khảnh đã tìm tới căn gác mờ tối này, một mình đương đầu với chủ nghĩa phát xít bằng trái tim dịu dàng của mình. Trong tình yêu cỏ non  dành cho Peter, cô chỉ vừa trao cho chàng nụ hôn đầu thì tiếng gót giày của Hitler đã sầm sập kéo tới trước cửa. Anne Frank gắng viết vội dòng chữ cuốí cùng của thiên nhật ký, như một thông điệp của Niềm tin gửi lại cho tuổi trẻ của nhân loại:
 “Dù bao lâu chăng nữa, dù vật đổi sao dời, em vẫn tin rằng con người sẽ hoàn thiện”.
  Tư liệu để lại từ một nhân chứng sống sót trở về, nói rằng ông đã từng gặp Anne trong đoàn người tả tơi đi qua trước sân trại Bgergen – Belsen giữa mùa đông, đôi mắt cô bé xanh biếc lạ lùng trong tuyết.
   Nhật ký của Anne Frank bằng tiếng Hà Lan được công bố lần đầu tiên năm 1947, nay đã in qua hơn 55 ngôn ngữ của loài người (tôi rất buồn không thấy bản dịch tiếng Việt ở đấy, dù in đã khá lâu). Nó được dựng thành phim năm 1959 bởi đạo diễn G. Stevens (tôi đã xem ở rạp Tân Dân, Huế thời đó), diễn viên chính là Shelley Winters (vai Anne Frank) được trao giải Oscar. Đến nay, hàng năm vẫn có nửa triệu người từ khắp Trái đất đến thăm ngôi nhà cũ này, im lặng, thành kính như đi vào một giáo đường.
Sài gòn, 27 – 10 – 1997
H – P – N – T

- Trích trong  Người ham chơi - Nhàn đàm – NXB Thuận Hoá năm 1998

Thơ vờ vịt Nguyễn Khoa Điềm...



DỊCH THƠ VIỆT RA THƠ VIỆT
Dịch Vô lối Nguyễn Khoa Điềm
H Tây, 2011
Nguyễn Khoa Điềm
Những chiếc lá sen non lớn dần
Bạn có thể nghe chúng thở trên mặt nước

Trong vắng lặng của làn sương mỏng
Những chú sâm cầm reo lên trong trẻo

Những người ném câu múa tay như làm phép mầu
Với bầy cá dấu mình trong chuyện cổ

Đôi khi họ lôi lên từ làn nước tối
Một mảnh tang thương đền đài ngày xưa

Chỉ có đôi trai gái chẳng cần biết mùa xuân đang về
Vẫn vùi nhau trong chiếc hôn đỏ

Trên cao, soi xuống mặt hồ
Một quầng mây đầy ám ảnh phóng xạ

Ngày 13-4-2011

Nguồn: Thơ Nguyễn Khoa Điềm, tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, 2012

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt
HỒ TÂY

Lá sen non nõn lớn dần
Ta nghe như tiếng trong ngần hồ gương

Nõn nà lặng vắng làn sương
Sâm cầm rối rít cánh vương đôi bờ

Người câu tay múa như thơ
Có nàng tiên cá trong mơ dấu mình.

Đôi khi dưới nước thình lình
Lôi lên một mảnh hài hình đền xưa

Gái trai say đắm quên mùa
Nụ hôn níu giữ xuân vừa đi qua

Trên cao soi xuống hồ xa
Đám mây phóng xạ làm nhòa gương trong!
                             Hà Nội, quảng 2012, 2013
                                               Đ - H



Từ Hải chống chiến tranh...

   
  
TỪ HẢI CHỐNG CHIÊN TRANH MẠNH MẼ

Lts: Trong nguyên bản Kim Vân Kiều truyện, Từ Hải – Minh Sơn chết đứng, cấm khẩu sau cú lừa ngoạn mục của Hồ Tôn Hiến. Cái chết ấy là cái chết của đẳng cấp cấp Tù trưởng – tiểu đội trưởng, đại đội tưởng bây giờ. Còn bậc quân vương, cổ kim đều bị bắt sống. Đó là điều biện chứng. Trong Kiều Thơ của Đỗ Hoàng, Từ Hải – Minh Sơn thể hiện đúng là bậc minh quân. Từ Hải là đấng “Naĩ tri binh giả thị hung khí/ Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi” (Binh đao là việc ác độc/ Thánh nhân cực chẳng đã mới dùng nó)

Nguyên bản:



Đỗ Hoàng (chuyển ngữ)

KIM VÂN KIỀU  TRUYỆN
Thanh Tâm Tài Tử

Hồi 19 (trích)
Mắc mẹo lừa ,Từ vương chết đứng,   
Nợ đoạn trường, Kiều Thúy trả xong
…Minh Sơn người đầy cung tên cắm vào, không gượng được nữa, kêu: Phu nhân làm hỏng việc của ta. Rồi hắt hơi mà chết. Chết không nói được một lời nào nữa Chết đứng sừng sững…
Quan quân trong mà cả sợ không ai dám đến. Lính tráng áp giải Thúy Kiều đi qua nhìn thấy Minh Sơn chết đứng, nàng nức nở khóc: Từ là bậc anh hùng, bởi nghe lời thiếp nên bất đắc kỳ tử. Đại vương ơi, thiếp tôi đã làm lỡ việc lớn.Thiếp đâu dám có mặt trên cõi đời này để phụ ơn Đại vương. Khấn xong , Kiều khóc lạ thay, Minh Sơn mở choàng đôi mắt, lệ tuôn như mưa, tự nhiên thi thể đổ xuống.
  Thuy Kiều nghe thấy hai chữ “Trào Tín", nhở lại chuyện ngày xưa, hỏi răng
: Đây có phải song Tiền Đường không?
Khách đáp: Phải. Thúy Kiều nghĩ: Đời ta kết thúc ở đây.Đạm Tiên đã báo mộng từ 15 năm trước rồi. Nhân tiện làm bài thơ Lục Tuyệt (6 câu)
“Thập ngũ niên tiền hữu ước
Kim triêu phương đáo Tiền Đường
Bách thé quang âm hỏa thước
Nhân sinh thân sự hoàng lương
Trào Tín thôi nhân khứ dã
Đẵng nhàn liễu khước đoạn trường!”
(- “Ước nguyền mười lăm năm qua, (757)
Tiền Đường ác mộng hoá ra hậu đường.
Trăm năm một thoáng âm dương.
Trọn đời giấc mộng hoàn lương nhạt nhoà.
Sóng triều giục bước người xa.
                                        Đoạn trường thanh sạch trả ta nợ đời!”)

  Đề xong bài thơ, Thúy Kiều kêu to: Từ Minh Sơn hậu đãi ta, vì việc nước mà ngộ sát. Mặt mũi nào đứng trong cõi đời. Ta đem cái chết để tạ Minh vậy!

Bắc Kinh 2006
Đ – H
KIỀU THƠ (trích)
4990- Mở mắt ra rõ sự tình.
Tấm thân mười thước cực hình gióng gông.
Binh tan như ngọn cỏ bồng.
Thây phơi đầy bến, đầy sông,  đầy đò.
Động trời vang tiếng reo hò.
4995- Nhữ Trinh lừa trận thắng to vang lừng. (745)
Hồ công mở tiệc ăn mừng
Đem Từ làm vật tương trưng tế thần.
Lệnh ban tháo củi, phóng thân,
Đưa vào đến tận trung quân mời ngồi.
5000- Rằng: “Nghe dũng trí hơn người,
Lại rành chữ nghĩa một thời bút nghiên.
Đã từng đọc sách thánh hiền.
Mà làm thảo khấu cuồng điên thế này?
Những bầy giặc cỏ xưa nay.
5005- Thiên triều nhất quyết ra tay diệt trừ.
Tội đồ truyền kiếp họ Từ.
Hành hung bạo ngược ác ngư, sói hùm.
Bây giờ thân đã đóng cùm.
Hỏi ra dũng khí, anh hùng ở đâu?
5010- Sẽ làm cho biết mặt nhau.
Ai cái thế, ai bêu đầu coi chơi!”  (746)
Từ rằng: “Việc ấy có trời.
Tiểu nhân đắc chí ngàn đời khác chi. (747)
Thiên triều nay đã mất uy.
5015- Dân tình đói rét còn gì mà mong.
Ăn xin, ăn cướp đầy đồng.
Chết đường, chết chợ, chết sông, chết đò.
Mệnh quan càng lớn càng to.
Lâu đài càng rộng, vàng kho càng nhiều.
5020- Thê thê, thiếp thiếp, yêu yêu.
Đờn ca xướng hát hết chiều, đến đêm.
Trong triều ngoài quận đảo điên.
Ta đây dấy nghĩa hạ thiên thay trời.
Hợp tình hợp ý muôn người.
5025- Làm vì nghĩa lớn đời đời dân tin.”
Hồ rằng: “Bao đám yêu tinh.
Cũng xưng vì nghĩa, vì tình với dân.
Nhưng rồi cướp phá giành tranh
Đôi bên giặc cỏ, thập thành thanh lâu.
5030- Có gì đạo đức cao sâu.
Một bầy mọi rợ từ đầu đến đuôi.
Còn làm ra vẻ dạy đời.
Thân phanh, trôốc mất đến nơi còn gừ!”
Từ rằng: “Chính sự nát nhừ,
5035- Quan thành lang đạo vua như bù nhìn.
Trong thành ngoài nội điêu linh,
Núi sông chết đứng, dân tình xác xơ.
Già nua không chỗ cậy nhờ,
Tang thương đến nỗi trẻ thơ bạc đầu!
5040- Lân bang chẳng cậy nhờ nhau.
Sách không ghi hết nỗi đau dân lành.
Máu người uống chẳng biết tanh
Gây ra bao cuộc chiến tranh bạo tàn.
Oan khốc từ phố đến làng.
5045- Thượng bất chính hạ làm càn ác tâm.
Lạ gì cái lũ quan dâm,
Miệng hô thiên tử, dao đâm tim người.
Thuyền rồng dỡn sóng, xe chơi.
Một phường ăn máu muôn đời dân đen!
5050- Lập công nấp váy kẻ hèn.
Cổ kim sử sách ai khen bao giờ!
Ta đây thác bụi chôn bờ.
Muôn năm dân nghĩa vẫn thờ khói hương!”











t

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2020

Dịch thơ Việt ra thơ Việt


DỊCH THƠ VIỆT RA THƠ VIỆT
CÕI LẶNG
Nguyễn Khoa Điềm
Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình
Với nỗi buồn trong sạch

Cõi lặng. Không tiếng động nào khác
Tiếng đập trái tim anh

Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống với người, chết vì người

Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác
Đến những miền trong xanh...

Ngày 17-1-2003

Nguồn: Thơ Nguyễn Khoa Điềm, tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, 2012

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt:
CÕI LẶNG
Cõi lặng anh soi mặt mình
Nỗi buồn trong sạch, trăng trinh giữa đời.

Cõi lặng không tiếng nào rơi
Tiếng tiim anh đập muôn đời nào yên

Yêu người tha thiết thiêng liêng
Nguyện cùng sống chết đảo điên vì người

Cõi lặng ghềnh thác vượt rồi
Đến miền thanh sạch, tuyệt vờì xanh trong!

Quàng hơn thập ký trước đầu  (XXI)
Đ - H


Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

BỎ BÀI “TIẾNG VỌNG” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU RA KHỎI SÁCH GIÁO KHOA (Tiếng Việt - Lớp 5 tập một)


BỎ BÀI “TIẾNG VỌNG” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU RA KHỎI SÁCH GIÁO KHOA (Tiếng Việt - Lớp 5 tập một)
Những tác phẩm được tuyển chọn vào sách giáo khoa là những tác phẩm tinh hoa kinh điển có giá trị cao về nội dung tư tưởng, nghệ thuật được thử thách qua thời gian và phù hợp tâm lý lứa tuổi học sinh. Chúng ta ai cũng có tuổi thơ cắp sách đến trường và những bài văn, bài thơ từ thuở ấu trò được ăn sâu trong trí nhớ và đi theo suốt cuộc đời của chúng ta, nó là mẫu mực trong sáng về tình yêu quê hương, đất nước, về tình cảm yêu thương không thể xóa nhòa:
 "Bờ cỏ còn hơi sương
Nắng vàng trải trên đường
Cành cao chim chào đón
Chúng em đi tới trường
Một hồi kẻng khua vang
Từng đội đứng xếp hàng
Mắt nghiêm nhìn cờ đỏ
Phấp phới ánh sao vàng
Em hứa thầm cùng Bác
Năm nay cháu học ngoan!"
 (Tập đọc cấp một những năm học thập kỷ 60 thế kỷ trước)
  Lứa tuổi năm sáu mươi hôm nay không ai là không nhớ bài thơ tới trường này!
  Thế hệ sau này, các em cũng được học những bài thơ rất hay, những vần thơ chan chứa tình cảm, hàm súc, âm vang và ngân xa:
"Hôm qua em tới trường
Mẹ dắt tay từng bước
Hôm nay mẹ lên nương
Một mình em tới lớp
Hương rừng đưa thơm ngát
Nước suối trong thì thầm
Cọ xòe ô che nắng
Râm mát đường em đi!..."
Hay:
"Rừng cọ ơi rừng cọ
Lá đẹp xanh ngời ngời
Khi yêu thường vẫn gọi
Mặt trời xanh của tôi!"
   Thế mà sang thế kỷ XXI, trong sách giáo khoa lại có tuyển chọn những bài thơ không ra thơ, văn không ra văn, có những bài đang ở dạng thể nghiệm chưa được công chúng thẩm định, thế mà lại được đưa vào sách giáo khoa ở tuổi ấu trò giảng dạy. Điển hình là bài "Tiếng vọng'  của Nguyễn Quang Thiều - sách giáo khoa Tiếng Việt - lớp 5 tập một  - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tái bản lần thứ 5 - tháng 1 năm 2011).

Nguyên bản:
Nguyễn Quang Thiều

TIẾNG VỌNG

Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng
Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe tiếng chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi.
Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú
Không còn nghe tiếng cánh chim sẻ về
Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt
Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt
Một con mèo hàng xóm lại tha đi
Nó để lại trong ổ những quả trứng
Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời

Đêm đêm tôi vừa chợp mắt
Cánh cửa lại  rung lên tiếng đập cánh
Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ
Tiếng lăn như đá lở trên ngàn ./.


   Tiếng vọng là một bài viết trục trặc, lủng ca, lủng củng, thừa ý, thiếu lời, thừa lời thiếu ý, tư duy rối rắm, lộn xộn, không nhất quán, lại rắc rối, tù mù, tối nghĩa... Như nói ở trên nó không ra văn vần, không ra văn xuôi, thơ cũng không phải thơ,  vè cũng không phải vè, văn tế cũng không ra văn tế, phú cũng không ra phú, hát ru em cũng không ru hát ru em, hát vui chơi cũng không ra hát vui chơi, triết học cũng không ra triết học.... Nó chính là loại Vô lối đặc trưng cách viết của Nguyễn Quang Thiều và nhiều người viết hôm nay thể hiện; rồi nhiều người, nhiều tổ chức lăng xê lên mây xanh, ngay cả Hội Nhà văn Việt Nam cũng trao tặng giải thưởng thơ năm 1993 cho tập "Sự mất ngủ của lửa" của Nguyễn Quang Thiều.
  Tôi đọc bài này nhiều lần, nhiều năm. Lúc nào tôi cũng băn khoăn: - Vì sao các nhà làm sách lại chọn bài này vào sách giáo khoa dạy cho các em lớp 5 đầu học kỳ một tuổi mới  lên 9, lên 10?
  Nội dung của bài Tiếng vọng nói sự vô tình của một em bé về cái chết của con chim sẻ mẹ để cho bao thế hệ chim non không ra đời!
        Con chim sẻ nhỏ vì cơn bão về gần sáng chết, tác giả xưng tôi vì ngủ quên trong sự ấm áp nên không biết nó chết, mèo hàng xóm lại tha chim đi, để những quả trứng không có chim mẹ ấp mãi mãi không nở thành chim con!
  Chỉ từng ấy thôi nhưng Nguyễn Quang Thiều lại làm rắc rối đến nỗi nhiều thầy cô dạy bài không hiểu ra, chứ nói gì đến trẻ con!
  Bài viết đầy những cái vô lý và thừa thải.
     Nói chim là nói người, chim ở đây được nhân cách hóa, không ai nói con chim sẻ nhỏ chết rồi. Nghĩa tử là nghĩa tận, chim chết cũng như người chết, không ai táng tận lòng mình nói  từ con và từ chết. Con dùng cho sự khinh miệt:  con rận, con sâu, con đĩ, con phò, con ca ve...Chết dùng cho sự khinh miệt: con chó chết, con chuột chết, con sâu chết. Còn không ai nói con và chết cho người và vật, những gì mình yêu mến.
"Bác Dương thôi đã, thôi rồi
Nước non man mác ngậm ngùi lòng ta!"
( Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê)

  Đọc bài Tiếng vọng thấy viết câu thứ nhất là "Con chim sẻ nhỏ chết rồi" và sau đó câu thứ mười một là "Nó để lại trong tổ những quả trứng" thì người đọc băn khoăn : "Con chim sẻ nhỏ mới toe toe mà biết đẻ"(!) Mà đẻ rất nhiều, đẻ ra cả ổ trứng (!). Đấy là sự vô lý.
  Câu kể này rất bình thường, nó thua cả câu văn xuôi!
      Chim sẻ ai chả biết là nó nhỏ. Tục ngữ nói " tấm cho sẻ ăn", tức là chỉ sự nhỏ bé của chim sẻ. Sẻ đã nhỏ thì con chim sẻ nhỏ, nhỏ biết chừng nào, chắc là nó mới ra ràng, sao lại gán cho nó một ổ trứng.
Có nhiều cách viết hợp lý hơn nhiều:
" Chim sẻ mẹ qua lúc bão về gần sáng"...
Những người chết trẻ, chết oan, bất đắc kỳ tức, người Việt hay dùng chữqua, như chị qua, anh qua, em qua...
Không ai nhẫn tâm nói:
"Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Nó chết trong đêm bão về gần sáng"
   Nhiều câu trong bài Tiếng vọng vô nghĩa, thừa thải, và lộn xộn:
"Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú".
Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà là đủ rồi, mặc chi đưa chiều gió hú vào đây? Chiều gió hú có thể một câu thơ được nhưng nó ở văn cảnh khác không thể đắp râu ông nọ chắp cằm bà kia!
 Nếu sắp xếp câu kéo và hợp với lô gic thì câu thứ  9 trong bài phải đặt lên câu thứ ba mới đúng và hợp tình hợp lý, hợp văn cảnh'
" Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng
Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt".
  Ở đây thêm điều vô lý nữa. Chim sẻ mẹ đang ấp làm gì có chim trống đến hót như tác giả tưởng tượng ra:
"Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt" (!)
"Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt" Tiếng chim hót trong vắt hay "Ban mai trong vắt?
   Tác giả khen tiếng chim trong vắt hay khen ban mai trong vắt? Học sinh 9, 10 tuổi mới lên lớp 5 làm sao biết được.
  Rồi những kiểu nói cho lạ tai không thuần Việt:
"Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi" Tây thật cũng chẳng nói kiểu này! Dịch ra nghĩa Việt là " Việc ấm áp của gối chăn đã giữ chặt tôi" . Có thể  có cách nói: chăn ấm, gối êm làm tôi ngủ yên!
  Tiếng vọng dùng từ lặp lại đọc nghe câu thơ nặng nề:
"Một con mèo hàng xóm lại tha đi
Nó để lại trong tổ những quả trứng
.....
Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ..."
  Tôi có hỏi nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà sư phạm về bài Tiếng vọng của Nguyễn Quang Thiều được chọn in trong sách giáo khoa - Tiếng Việt - Lớp 5 tập một.
 Thạc sỹ giáo dục, nhà thơ, dịch giả, Trưởng ban biên tập, phụ trách Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Trần Hậu, ông cho biết: " Đây là bài đang dạng thể nghiệm nên không thể đưa vào sách giáo khoa nhất là sách Tiếng Việt lớp 5, tập một. Bài Tiếng vọng nhiều người lớn không hiểu, làm sao trẻ hiểu nổi. Sách giáo khoa bây giờ còn nhiều bài như thế này cần nên loại bỏ!"
  Thầy Trần Đức Trung, tổ trưởng chuyên môn khối 5, cô giáo Nguyễn Thị Kim Yến, giáo viên dạy giỏi thành phố Huế dạy lớp 5, cô Thu Dung giáo viên dạy lớp 5 ở trường Tiểu học Thuận Lộc, thành phố Huế đều nói :
- "Tiếng vọng" là một bài ý tứ lủng cũng, ngôn từ lộn xộn, khó hiểu đổi với các em học sinh mới lên lớp 5. Bài viết không vần điệu, không đi sâu vào lòng người nhất là học sinh tiểu học! Các thầy cô giáo còn chưa hiểu được làm sao học sinh hiểu được!
    Cũng rất may mắn là năm học vừa rồi (năm 2011 - 2012) ở Thừa Thiên - Huế tuân theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong kế hoạch giảm thiểu chương trình nặng nề đã loại bài Tiếng vọng không dạy cho học sinh.
  Năm học tới sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 nên loại bỏ bài Tiếng vọng ra khỏi sách giáo khoa và nhiều bài phi văn chương khác!

                                                      Hà Nội ngày 9 tháng 6 năm 2012
                                                          
Tác giả: Nhà thơ Đỗ Hoảng