Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

SÓNG VÀ KHOẢNG LẶNG, TẬP VÔ LỐI CỦA TỪ QUỐC HOÀI PHẢN THƠ CA

 


SÓNG VÀ KHOẢNG LẶNG, TẬP VÔ LỐI CỦA TỪ QUỐC HOÀI PHẢN THƠ CA

Sáng tác bạn bèTrackbacks (0)góp ý (3)   

Đỗ Hoàng


      Tôi cầm lên đặt xuống tập sách Sóng và Khoảng lặng  của Từ Quốc Hoài không biết bao nhiêu lần, định viết vài nhời, nhưng rồi tự nhủ: “Hơi sức đâu mà đi mua tiếng chưởi vào mình! Bao nhiêu người tài danh họ im lặng để “dĩ hòa vi quý”, mình cứ ngứa mồm chẳng được cái gì. Ở đời thì trăng cứ sáng, chó cứ sủa người cứ đi, đã làm sao đâu!

     Tập thơ Sóng và Khoảng lặng của Từ Quốc Hoài và 3 tập thơ của 3 tác giả khác Mai Văn Phấn, Đỗ Doàn Phương, Đinh Thị Như Thúy) được giải thưởng Hội  Nhà văn hai năm ((2010 – 2011). Các báo chí chính thống, trang mạng chính thống rầm rộ in thơ của tác giả đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam nên làm mọi người trong đó có tôi chú ý, tìm đọc.

    Chẳng phải tìm đâu xa, các  báo chí chính thống như: Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Thơ, báo Văn nghệ, nhất là báo Văn nghệ còn dành một trang để khen hết lời “ Nhà thơ Từ Quốc Hoài với những cột mốc văn chương”.  Ảnh Từ Quốc Hoài ôm bó hoa, comle, cà vạt như chú rể trong đám cưới. Thật là  “Ông mang cái vẻ bên ngoài để che đậy cái sơ sài bên trong” (Tú Mỡ) 

  Tôi đọc lướt qua tập Sóng và Khoảng lặng, thất vọng với cách viết của Từ Quốc Hoài. Đó là ý cá nhân của tôi.  Tôi chọn bài Người làm vườn in và sau đó “dịch” bài này ra thơ Việt bằng cả hai cách, một lục bát, một năm chữ in trên vannghecuocsong.com  dohoang.com để người đọc họa may còn đọc được và hiểu được. Kẻm theo hai bài dịch là bài văn tả cảnh Vườn nhà em của một em học sinh lớp 6 tận xứ núi Plei ku. Và so sánh bài vô lối Người làm vườn  của Từ Quốc Hoài và bài văn tả cảnh Vườn nhà em của em học sinh lớp 6 và bình bài vô lối của Từ Quốc Hoài dở hơn nhiều lần bài văn của học sinh lớp 6 xứ núi Pleiku.


     
  Ngày nào đi làm tôi cũng kè kè cuốn Sóng và Khoảng lặng trong cặp, thấy ngứa ngáy, lộm cộm, khó chịu vô cùng. Dỡ ra đọc lại có cảm giác như gặm phải đá sỏi hoặc như đi giữa đường vấp phải đinh sắt mà bọn du thủ, du thực rải đinh để bẩy xe ô tô, xe máy bây giờ. Tâm trạng chẳng khác gì nhà thơ Hải Bằng vịnh hai ông nhà thơ, nhạc sỹ vườn thời thập kỷ 70 thế kỷ trước được báo chí chính thông lăng xê:

“Hoan hô nhà thơ Văn Zin,

Bỗng đâu bắt gặp cái đinh giữa đường.

Hoan hô nhạc sỹ Minh Zương

Bỗng đâu bắt gặp giữa đường cái đinh!”


   Vấp tập Sóng và Khoảng lặng, tôi cũng như vấp phải đá sỏi và đống đinh trên đường vậy!


         *

     Tập Sóng và Khoảng lặng được Nhà xuất bản Văn học cấp giấy phép ở Chi nhánh phía Nam, in xong và nộp lưu chiểu tháng 4 năm 2010.

      Tập có 41 bài, đa số viết ngắn, ít có bài dài quá 3 trang. Đây là tập toàn tòng vô lối, xa lạ với cách viết, cách nghĩ, cách cảm truyền thống của dân tộc và của nhân loại. Thật sự nó phản lại thơ ca! Không có một bài nào gọi là thơ, không có một đoạn nào gọi là thơ, thậm chí không có một câu nào gọi là thơ!


  Một cách làm xiếc chữ không ra xiếc chữ, một cách cố ra vẻ tư duy không ra vẻ tư duy. Cách lập ngôn ngô nghê, ông già không ra ông già, trẻ con không ra trẻ con, dở dở ương ương, lởm khà, lởm khởm. Đầy lối nói rởm kiểu cách, phách lối, trẻ con, hết sức nhố nhăng: “Núi níu trời cho mây vẫn vít, trăng tinh tươm rời bồn tắm, trút bỏ áo ngày, bờ sông thiếu nữ, da thịt núi đồi tỏa hương mật, anh gieo hy vọng, anh gieo giấc mơ, gieo vãi trong mùa sinh nở, thăm thẳm bờ sông thiếu nữ, anh lạc vào nụ cười tươi xanh, vết thương ngày cũ, cánh đồng sợ hãi, những bước chân của gió những cánh đồng thu dọn mùa màng, tôi gửi ngọn gió nồm cho da thịt em mát rượi, bao Đức Ông tươi tốt, nhồm nhoàm nhai bạc tiền, anh bày biện thêm nụ cười, gió dạo chơi ngày mới, tĩnh lặng mặt nắng đầy, bao vẻ đẹp sây sướt, nghe con sóng tẩy xóa bóng chiều,…
      Kể làm sao cho hết kiểu nói ngô nghê tuổi lên chín, lên mười này!

      Những triết lý rẻ tiền: Đồng tiền là vách ngăn, lẽ nào chúng ta bi quan, hạnh phúc trong tầm tay hay đã xa vời, trời ơi, một thế giới ô nhiễm đến tận giường nằm, gió như không là gió trên đời, khẻ chạm tay vào nắng, nắng rất thật, giấc mơ cuối chân trời luôn biến ảo, chết một cách gọi khác của sự sống…

        Đề tài tình yêu, tình bạn, tình quê dễ xúc động lòng người nhất mà đọc Từ Quốc Hoài ta có cảm giác như đi trên đống xi măng, vôi vữa đá tảng, mẻ chai.

      Viết về gia đình vợ con như ở trong trại tế bần đói khổ nheo nhóc, nhẫn tâm, vô cảm, coi tình cảm vợ chồng như mớ cá, mở tôm ngoài chợ đem bày bán:

“bên gương mặt bình lặng của người vợ hiền

và ánh mắt háu đói

của con trẻ

bữa cơm tối nghi ngút

anh bày biện thêm nụ cười…”

(Trữ tình)

       Tình cảm gia đình của Từ Quốc Hoài xa lạ một trời một vực với tình cảm của người lính Nga trên đất Đức khi nhớ về quê hương, gia đình, vợ con:

  “Đất không phải đất quê mình,

Cánh đồng sẫm nước êm lành bao la,

Hương mùa dìu dịu bay qua,

Có gì thân đến sâu xa trạnh lòng.

Ô hay là trận lũ ròng

Trải bình dị thế qua đồng, qua khe

Lăn tăn màu cỏ non kia

Có gì đâu khác bên quê xứ mình

Tưởng trong giấy phút thình lình

Chưa hề có cuộc chiến tranh qua rồi.

Chưa bao cách trở xa xôi

Chưa bao nguy hiểm đứng ngồi không yên

Vợ mình hẳn đã già thêm

Con mình độ ấy lớn lên bao rồi?

Mình qua cả cuộc đổi đời

Hương mùa xuân mãi bồi hồi nỗi chi!

(Trên đất Đức, thơ Nga – Bằng Việt dịch)

   Từ Quốc Hoài viết về bạn bè cũng một tông khô khan, đại hạn, vô tình , vô cảm như vậy:
Không khi loãng

dấu chân gió bôi xóa

anh mặc áo, cài cúc thật kỹ đi giữa những lâu đài

bao người nhìn ngắm!

anh nhìn vào những là cờ mỉm cười

(Thơ viết cho một người)

      Anh có những người bạn thân bị hoạn nạn, bị đời ruồng bỏ, bị thế gian muốn giết chết. Đáng ra phải đồng cảm thương đau, xa xót cùng bạn hay ít đi nữa thì có chút sẻ chia nỗi rủi ro bất hạnh mà bạn vướng phải. Đằng này tác giả chỉ nói đâu đâu, mây gió, công viên, hết sức nhạt nhẽo, lạnh lùng, băng giá:

“những công viên nhiều màu

đâu đâu cũng nhiều màu

bức tranh kia không ngừng biến đổ

hạnh phúc trong tầm tay

hay đã xa vời?

cuộc đời như ngọn gió

anh hít thở và cảm nhận

cuộc đời luôn là một kho báu

đầy bí ẩn…”

(Thơ viết cho một người – đã dẫn)

         Cách đây gần hai nghìn năm Đỗ Phủ đã viết bài thơ Bất kiến về Lý Bạch người bạn vong niên của mình bắng một tình cảm chứa chan, tấm lòng đồng điệu, cảm thương tột độ nỗi đau thương mà bạn phải gánh chịu giữa cuộc đời đảo điên, ô trọc. Đến nay đọc vẫn ngậm ngùi xúc động, xót đau cho một tài năng lớn bị dập vùi:

“Bất kiến Lý sinh cửu

Dương cuồng chân khả ai

Thế gian giai dục sát

Ngô độc ý liên tài

Mẫn tiệp thiên thi thủ

Phiêu linh nhất tửu bôi

Khuông sơn độc thư xứ

Đầu bạch hảo quy lai!

LÂU KHÔNG GẶP NHAU

Lâu không gặp Lý Bạch

Giả điên thật thương thay

Người đều muốn giết

Riêng chỉ ta thương tài

Thông minh nghìn thi tứ

Lưu lạc chén mềm môi

Núi Khuông còn sách đọc

Đầu bạc nên về thôi!

(Đỗ Hoàng dịch)

       Quê hương là nới chôn rau, cắt rốn, chỉ nói một tiếng quê ơi đã rung động lòng người, thế mà Từ Quốc Hoài chơi cả một bài Quê nhà mà không may may động lòng:

“Dưới bầu trời thăm thẳm

núi đồi lặng lẽ thở

lặn trong đáy mắt

những mùa xuân làm đảo lộn đời người

anh lẩm đẩm lớn

bên những tờ bạc cũ nhàu

cát bụi có gương mặt của cát bụi

anh luôn ngạc nhiên với gương mặt mình…

      Bài Quê nhà có 16 câu mà đến câu thứ 8 rồi người đọc chẳng thấy quê nhà, tình cảm yêu thương của tác giả ở đâu.

   Ít ra thì phải có chút tình quê như trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân:

“Quê hương nếu ai không nhớ

  Sẽ không lớn nỗi thành người”

 Đấy là chưa so với thơ về Quê hương của Chế Lan Viên:

“Những bộ áo quần rằn ri,

Những tâm hồn vằn vện

Chúng xáo trộn quê ta như xóc một ván bài

Bao tên tỉnh, tên huyện, tên làng đều thay đổi…”

Hay:
Cố viên đông vọng lộ man man

Song tụ long chung lệ bất can

Mã thượng tương phùng vô chỉ bút

Bằng quân truyền ngữ báo bình an!

Quê nhà xa tít ngoái trông sang

Áo thỏng hai tay lệ chảy tràn

Trên ngựa gặp nhau không giấy bút

Nhờ anh nhắn hộ vẫn bình an!

(Dịch – KD)

 (Phùng nhập kinh sứ – Sầm Than – đời Đường)

Ngoài ra trong tập Sóng và Khoảng lặng có nhiều bài Nhật ký, Tự sự kiểu cách, rối rắm, vô thưởng, vô phạt, hoặc  tù mù đánh lừa người đọc:

“Bên ngoài cửa sổ

sóng biển quẫy đập đêm ngày

như lớp lớp

ký ức

không chịu nhắm mắt (Tự sự 7)

Hay:
Chúng ta nhẫn nhịn

ngày này qua ngày khác chung sống

riết rồi quen

đặt lên bục

tôn vinh

những thứ có trời mà biết (Tự sự 2)

   Tập vô lối toàn tòng Sóng và Khoảng lặng của Từ Quốc Hoài đúng như tuyên ngôn của ông: Có trời mà biết! Có trời mới cảm được!

                                                                  Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2012

                                                                                                                                                                          Đỗ Hoàng

ĐỖ HOÀNG LẠI DỊCH THƠ VIỆT RA THƠ VIỆT

 


ĐỖ HOÀNG LẠI DỊCH THƠ VIỆT RA THƠ VIỆT

Đỗ Hoàng

Thứ ba ngày 9 tháng 3 năm 2010 11:15 AM


 

 

Bài “ Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhỹ Kỳ”

Của Nguyễn Quang Thiều

 

        Người viết cứ viết ra theo sự suy nghĩ chủ quan của mình. Sau đó người ta phân và chia ra làm nhiều thể loại như: Văn, thơ, phú, tế, kịch, hịch, ca dao, tục ngữ, vè, nói lối, hát vui chơi, nói vui chơi…

  Thời hiện đại các tác giả cũng có nhiều cách viết, cách nói, cách lập ngôn nhưng chưa thấy các nhà phê bình phần loại thể. Tôi đã có nhiều lần đề nghị với tư cách cá nhân khi thấy nhiều người viết ra nhiều kiểu lạ mắt lạ tai, thấy thơ cũng không phải thơ, văn cũng không phải văn, dịch cũng không phải dịch, truyền thống cũng không phải truyền thống. Người trẻ cũng có, người già cũng có. Tộc người đa số cũng có, tộc người thiểu số cũng có. Các kiểu viết ấy với cái tên phân thể loại là “Vô lối”. Từ “Vô lối” cũng đủ giải nghĩa các kiểu viết trên. Đại biểu cho kiểu “Vô lôi” này là Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, Phú Trạm Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Phạm Vân Anh, Hoàng Vũ Thuật…

 

 Xin dịch bài “Vô lối” 

- Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ

Tác giả Nguyễn Quang Thiều

 

“Tấm thảm Thổ thăng trầm thiên biến,

Hướng dẫn viên dẫn chuyện rõ ràng:

- Thảm này dệt sợi dọc ngang,

Một bà người Thổ tay vàng làm ra.

Người mua lại một ông già,

Da đen quốc tịch Cu Ba rạch ròi.

Ở Ha va na hẳn hoi.

Vào năm tám sáu cũng thời mới đây.

Chủ nhân nói: - Tấm thảm này,

Quà con trai tặng cho thầy u thương!

Hai mốt năm treo trên tường.

Cỏ cây nuông thù lạ thường hiển linh (1)

Sớm khuya vang vọng quanh mình,

Tiếng cây, tiếng suối thập thình đâu đây.

Tiếng nai gọi bạn hao gầy,

Mùa sinh sôi giục đàn bầy đến nhanh.

Chủ nhân tám bảy xuân xanh.

Sáng xơi trà nguội đã thành thói quen.

Những con nai đực khát thèm,

Nhưng nhà đóng cửa cài then chặt rồi.

Bà già năm lượt đi ngoài,

Lưng còng chân yếu kêu lời xót đau.

Thảm không dịch chuyển đi đâu,

Hai mốt năm vẫn gắn đầu chỗ treo.

Ông năm mươi tuổi dáng nghèo,

Trở về thường đứng vai đeo túi hờ.

Ngôi nhà tối sáng mập mờ,

Tràn lên tấm thảm tiếng hô hoán đầy.

Phía sau tấm thảm ai hay?

Lưỡi dao sắc lạnh đợi ngày bén xơi.

Một cái chảo sùng sục sôi,

Hướng dẫn viên: - Bà Thổ quả thiệt thòi tấm thân.

Mù loà liệt cả tay chân.

Người mua lại kể ngọn ngành xảy ra.

Ông già da đen Cu Ba,

Khốn cùng tự vẫn thế là đi tong.

Chủ nhân bày tỏ thật lòng:

- Nhớ con trai gương mặt hồng như hoa.

Chính lúc tấm thảm mở ra,

Một người lạnh cóng như là chết khô

Đứng nhìn tấm thảm trống trơ,

Hai chân đông cứng lặng tờ máu tươi.

 

Hướng dẫn viên bỏ nghề rồi.

Người mua quên bẵng một thời mình mua.

Chủ nhân: -  Tôi bạn khiếp chưa?

Người thân chết cháy chẳng lưa thứ gì,

Gốc cây trong thảm thâm sì.

Bây giờ là đúng năm nhì ai ơi!

 

(1) Người dệt thảm tài hoa dệt cây cỏ muông thú trong thảm bỗng chốc trở thành những sinh linh sống động như ở ngoài đời!

 

Hà Nội, ngày 7 – 3 – 2010

Dịch nói vo Lê VăN Ngăn 2

 


Dịch nói vo Lê VăN Ngăn 2

Dịch Vô lối ra thơ Việt (7)

dohoang | 05 March, 2008 18:38

Lê Văn Ngăn 
Nguyên bản (1)
 
Ở Huế 

Những ngày tôi còn ở Huế 
lưu vực sông Hương thường vọng về tiếng nước gọi tôi thức dậy sớm 
Dưới nền trời chưa tắt những vì sao các con đường nằm lặng im đợi bước chân người 
Và người hiện ra từ những ánh đèn quá khứ 
Người đi về phía ngày mai 
Người qua đời đã lâu nhưng còn sống giữa lòng người 
Bên người và những câu chuyện tôi biết quê hương tôi có tiếng nói riêng tiếng nói của một xứ sở lớn lên từ những vết thương và niềm vinh dự 
Dường như trong đôi mắt em dịu dàng còn thấp thoàng những bóng hình những vết thương và niềm vinh dự 
Bên người và những câu chuyện tôi biết quê hương tôi còn mở những ngả đường hướng ra thế giới hướng vào mỗi tâm hồn người 
Từ đó 
Tôi nhận ra sự giàu có không chỉ vì đồng tiến 
Rồi sẽ đến ngày tôi không còn ở Huế 
Rồi Sông Hương sẽ vắng một người lắng nghe tiếng nước gọi mình (1) 

Bài in trên Tạp chí Thơ số 2 - 2008 - In lại  trong 1 chùm Vô lối Toàn Tòng trên Tạp chí Thơ số 12 năm 2010

Dịch ra thơ Việt: 

Ở Huế 

Những ngày ở Huế còn tôi. 
Sông Hương nguồn cội vọng lời yêu thương. 
Ngàn sao đang vượt thái dương.
Đợi chờ người bước lên đường vững tin. 
Chớp lòa quá khứ hiện in, 
Người đi về nẻo lưu hình mốt mai. 
Người khuát dù đã khuất rồi. 
Như còn sống giữa tình người mến yêu.
 Bên người huyền thoại thật nhiều
 Quê hương sáng sáng, chiều chiều thiêng liêng. 
Giọng quê kiêu hãnh ưu phiền
 Dường như có ánh mắt tiên dịu dàng 
Bóng hình vô ảnh mênh mang 
Nỗi đau dịu lại rỡ ràng niềm thương 
Có người dẫn lối phi thường. 
Nhìn ra bốn cõi, mở đường tâm linh. 
Hướng vào sâu thẳm con tim,
Giàu sang đâu chỉ tiền in cõi còm.
Ngày tôi ở Huế không còn 
Sông Hương vắng tiếng người con gọi mình! 

Hà Nội ngày 4-3-2008

Dịch Vô lối Toàn tòng Vi Thùy Linh

 

 


Dịch Vô lối Toàn tòng Vi Thùy Linh

 

Vi Thuỳ Linh

Nguyên văn:

Tự tình Paris

Từ giấc nào

Trong tay Anh

Sông Seine làm em đẫm ướt

Đã ướt mòn các chân cầu, lâu đài đá

Trong cơn ám ảnh điên cuồng

Nữ thần Tự Do buông tay

Những con ngựa vàng trên cầu Alexandre bay

Mang những đoá hoa đi mất

Tình yêu luôn mới và trái tim liều lĩnh

Không ngăn được em chỉ yêu Anh

Hai lần Paris em chỉ một mình

Tiếng hát trong vắt luồn qua bao vòm cửa muôn đời

Thu phục những thở dài mệt nhọc

Môi lửa làm chảy tuyết băng

Không còn cuốn lịch nào treo trong thành phố

Chỉ có những bài thơ đang thở

Trên những con đường đẫm mùi quyến rũ

Những bức tượng mời gọi hiến dâng

Nước xanh mắt xanh không tuổi

Giục giã còi tàu nấc nghẹn

Rực thắm balcons hồi hộp những đường cong

Ôm lại chân trời xa

Những bảo tàng bán bóng mình bằng vô giá

Những luồng xe nháy đèn vượt nhau, xả khói chiếm buồng không khí

Em chiếm em giữa đô thị tình yêu

Siết mùa từ tinh mơ đến khi đèn lộng lẫy

Kich ứng mình bằng si tình vĩnh viễn

Không còn cuốn lịch nào treo trong thành phố

Chật người yêu tụ về ánh sáng

Paris say non tơ

1.2008 - Tạp chí thơ trang 40 số 2 năm 2008


Đỗ Hoàng dịch thơ

Tự tình Paris

Trong tay Anh tự giấc nào.

Sông Seine nồng mặn thẫm vào tim em.

Ướt mòn cầu đá lầu tiên.

Trong cơn ám ảnh cuồng điên thế này

Nữ thần Tự Do buông tay!

Alexander ngựa vàng bay trên cầu.

Mang đi đoá hoa đượm màu,

Trái tim liều mối tình đâù còn xanh.

Không ngăn em chỉ yêu Anh.

Paris em đến hai lần đơn côi,

Giọng ca buồn nẫu muôn đời.

Làm tan bằng tuyết làn môi lửa hồng

Thời gian ngộp thở say nồng,

Hương mùi quyến rũ những con đường trần.

Tượng mồ mời gọi hiến dâng.

Mắt xanh, nước biếc lên tầng tươi non.

Còi tàu nấc nghẹn từng cơn,

Balcons rực thắm nét cong phập phồng.

Ôm chân trời rộng mênh mông,

Bảo tàng bán bóng mình không giá nào!

Chiếm em đô thị khát khao.

Cuộc si tình ấy biết bao giờ tàn.

Tụ về ánh sáng mơ màng,

Paris diễm lệ say vàng non tơ!


Hà Nội 21 tháng 8 năm 2008

 

ĐƯỜNG GIÓ – VÔ LỐI CỦA GIÁNG VÂN – PHI THƠ CA


 ĐƯỜNG GIÓ – VÔ LỐI CỦA GIÁNG VÂN – PHI THƠ CA

Đỗ Hoàng
Cách đây mấy thập kỷ những người làm thơ cố gắng chối bỏ những hình thức được lưu hành, họ quyết bức phá và tìm cách thể hiện sao cho khác tiền nhân. Đó là việc đáng khuyến khích. Nhưng qui luật xã hội hay tự nhiên thì mọi việc phát triển đều phải có tính kế thừa và phát huy. Những người tự xưng mình cách tân thơ không hiểu điều đó. Ngôn ngữ phương Đông và ngôn ngữ Việt đều là đơn âm, phát ra từ răng, gọi là xỉ âm, nên nói không có vần điệu, không có lối thì không thể nhớ được, làm thơ đã không vần không điệu, không có tứ lạ, tứ mới, không có một triết lý sâu sắc, viết như người nước ngoài học 3 tiết tiếng Việt rồi làm thơ Việt thì ai ngửi được. Không như ngôn ngữ Xlavơ và La tinh, Âu Mỹ… Mỗi từ của nó như là một khúc ca ngắn, nên thơ họ vần điệu có thể đặt xuống thư yếu.
   Rồi trào lưu làm thơ văn xuôi nảy nở khắp thế giới, khiến cho nhiều người có đất dụng võ cứ viết lung tung lang tang và gọi nó là thơ.
  Những người làm Vô Lối (chữ của Đỗ Hoàng) không chỉ phe nhóm mình tung hê mà được các cơ quan tư nhân và công quyền tung hê nên họ càng tin tưởng mình thiên tài mở ra một chân trời thi ca (!)
 Hàng loạt người làm Vô Lối từ thời miền Nam tạm bị chiếm như: Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Phú Trạm  - In na sa ra…miền Bắc như: Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, , Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Văn Cẩm Hải, Mai Văn Phấn, Hoàng Vũ Thuật… nẩy nở như nấm mọc sau mưa!
  Giáng Vân cũng viết Vô Lối như các bậc đàn anh của mình như vì chưa thành danh nên Đỗ Hoàng tôi không muốn mất thì giờ.
  Nay xem thấy cái tập Đường Gió của Giáng Vân được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải, tôi cũng phải viết vài lời phản biện.
  Đường Gió là một tập viết phi thơ ca, Vô Lối toàn tòng, nó chối bỏ tất tật truyền thống cha ông. Nó là một một thứ quái thai không ra chuột không ra mèo. Nó ngô ngô ngọng ngọng, dở dơi dở chuột, khô khan đại hạn, cũ kỹ, giả cầy tây tàu, thừa lời thiếu chữ, thiếu lời, thừa chữ, thiếu chữ thừa lời, nhạt nhẽo vô nghĩa, gái già làm duyên không phải lối, xơ cứng, tù mù, tịt mịch, gượng gạo, vô cảm, lãnh cảm, sáo mòn, sáo rỗng, nhạt thếch, vô vị,  hô khẩu hiệu suông, biểu hiện rất kém văn hóa, kém từng trải…
 Trong 74 bài của Đường Gió, bài Lời của suối nguồn được đưa lên đầu tiên.  Đây là bài không có thang điểm nào mà cho, nó phản thơ ca một trăm phần trăm.
 Hãy chảy đi, chảy đi
 
Bởi vì ta cần mang cho
Bởi vì ta không khi nào cạn
Bởi vì ta không khi nào tính đếm…
Một con suối nhỏ nhoi ồn ào quá đáng. Loại suối cóc léo nhéo suốt đêm ngày làm người ta mất ngủ, còn:
Sông to không chảy ồn ào.
(Sa Di )
Nó thuộc loại thùng rỗng thì kêu to (ngạn ngữ)
 Một kẻ lên gân như con bọ ngựa đá nhau. Con Người vỹ đại như thế mà còn run sợ trước thiên nhiên. Sao con suối nhỏ như mắt muỗi dám cao ngạo mình không khi nào cạn?
Thi sỹ Tản Đà tài danh mới dám viết:
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
 
 Người ta viết đầy hình ảnh lấp lánh, đa chiều, hàm súc. Đây Giáng Vân viết vừa thô thiển, vừa cạn cợt, vừa chủ quan:
Hãy chảy đi
Đừng hỏi nước khổi nguồn từ đâu?
Đừng hỏi Tình yêu khởi nguồn từ đâu
 
Chưa hết Giáng Vân  lại còn đại ngôn, sáo rỗng tiếp:
“Nước là tình yêu ta
Tình yêu là nước nên ta mãi mãi”
 
“Hãy chảy đi
Đừng bào giờ ngoảnh lại
Nước lên hương ban mai
Nước mát rượi ban trưa
Nước dịu dàng chiều hôm
Khi đêm về hư ảo
 
Hãy chảy đi..”
 Thôi miễn bàn nhưng lời đại ngôn có cánh.
Chùm Vô lối viết ở nước Lào vô cùng kém, không có một tí gì là mới, phát hiện mới, cũ càng cũ kỷ, cảm xúc, gượng gạo, triết lý vặt:
“Lặng im hát
Bài hát giữ cho những vẻ đẹp được sống
Đã được tạo tác như vậy.”
(Viết ở Viêng Chăn)
 Nhà thơ Phạm Tiến Duật – một cổ động viên cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhưng có những bài thơ về nước Lào hay:
“Ai nói Lào không có biển đừng tin
Tôi đã thấy biển Lào trong vùng giải phóng
Là khi đi giữa Sê pôn, Sê kông lổng lộng
Biển là em,
Thăm thẳm mắt em nhìn.”
 Đọc hết cả tập Đường Gió, tôi mới thấy kiểu viết Vô Lối phá nát văn chương. Giáng Vân có mấy bài viết về Mẹ và con là những bài Vô Lối nhạt nhẽo, cứng nhắc, đơn điệu vô cùng:
“Bên ngoài những định giới hạn hẹp
Mẹ về bên con bằng thứ ánh sáng xanh biếc vô hình
Niềm vui sáng dịu dàng khôn tả…”
(Thơ dâng Mẹ)
 Viết về Mẹ mà giống như thầy giáo dạy bài vật lý  “Ánh sáng truyền theo đường thẳng”
Giáng Vân không học ca dao tục ngữ sao:
“Chiều chiều ra đứng ngõ chiều
Nhìn lên mả Mẹ chín chiều ruột đau”
(Xin xem bài Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt phần sau)
 Trong một bài viết về mẹ “Thơ dâng Mẹ” rất đầu Ngô mình Sở, tiền hậu bất nhất.
“Mẹ đã hóa vào cao xanh kia
Cao sang và hư ảo

Đó là gương mặt thật của mẹ
Gương mặt của người mẹ vỹ đại đã sinh ra con
Tiếp đoạn sau lại rất thủ phận, người mẹ vỹ đại biến mất, chỉ còn:
“Bởi vì mẹ ơi mẹ con mình thật nhỏ bé
Chỉ như cái bòng côi cút trong cuộc đời”
Hai bài thơ viết cho con vừa sơ sài, vừa nhạt vừa lê thê. Không một rung động.
“Tôi ôm con gái tôi
Khi nó nhắm nghiền mắt và mơ
Trong cái thân hình ấm nóng và sống động
Nó tựa hẳn vào tôi tin tưởng.”
Câu dở hơn cả câu văn xuôi
(Thơ viết cho con)
Tiếp:
Con ơi
Có nhiều lúc mẹ rất nhăn nhó con không nhớ sao?
Đầy là những lúc con hư làm mẹ bực mình
Nhưng đây là vì mẹ lo cho con mẹ nhỉ.
(Trò chuyện với con)
Nói bộ dở thua một bà nông dân nói với con gái.
 
 
 Những cây bút đương đại hay né tránh những hiện thực đau đớn đè lên thân phận người phụ nữ. Họ bốc thơm người phụ nữ lên:
“Chị em ta tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời mà cũng nắng cho thơ.”
(Huy Cận)
Thực ra phụ nữ thời nào cũng là nạn nhân của quyền lực và đồng tiền. Phụ nữ dưới các chế độ độc tài, toàn trị lại càng đau khổ hơn.
 Trong văn chương cũ người ta đã lên án việc này rất mạnh mẽ:
Bộ binh, bộ Hộ, bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”
(Ca dao)
“Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”
(Ca dao)
“Trách móc làm chi chi
Ơi người là người ơi! Ơi chàng là chàng ơi
Sao tệ tệ rứa chàng
Sao bạc bạc rứa chàng!”
(Ca dao)
Rồi thì:
“Đẻ ra đứa con chẳng biết nó giống ai
Cái đầu thì ông xã, cái tai thì của ông trùm.
(Cao dao)
 Bây giờ:
Đẻ đứa con ra là biết nó giống ai
Cái đầu của bí thư chủ tịch, cái rái khoai của đảng đoàn…”
(Ca dao mới)
Hay:
 Đời thì Sở Khanh nhiều hơn rắn
Hệ lụy  bao nhiêu kiếp thân kiều
Trinh nữ làm sao mà lành lặn
Mỗi bước ma bầy kéo tiểu yêu!
(Đỗ Hoàng)
 
 Các cây bút nữ chỉ kêu gào nữ quyền, nhưng chỉ đòi hỏi quyền sex. Quyền sex cũng đáng đòi nhưng nó thứ yếu. Quyền lớn hơn là quyền làm mẹ, quyền nuôi con, quyền được lấy chồng, quyền có chồng, quyền được chồng chăm sóc. Người ta hiểu sai quyền làm mẹ là quyền thoải mái chửa hoang đẻ hoang, một mình người đàn bà phải chịu đựng nuôi con nuôi cái. Mà cái nữ quyền là phải đòi giống đực phải có trách nhiệm việc gây ra hậu quả cho người phụ nữ. Phải như con bò cạp, nếu giao hoan thì phải đổi cả tính mạng để làm nguồn thức ăn cho đứa con sơ sinh sắp ra đời.
 Giáng Vân đáng ra phải viết thay cho những người không chồng mà chửa mới ngoan thì sẽ thực hơn và xúc động hơn.
  Ngoài ra tác giả dùng tràn làn những từ Hán Việt chưa được việt hóa hoặc cũ mòn như: hoan ca, linh giác, an nhiên, thống khổ,  mê dụ, cô tịch, ngẫu cảm…
Những bài viết trước đây và tập Đường Gió là một cách viết hoàn toàn thật bại phi thơ ca.
   Không chỉ Hội Nhà văn Hà Nội mà Hội Nhà văn Việt Nam cũng liên tục trong nhiều thập kỷ qua cổ súy, lăng xê – trao giải cho những cách viết phi thơ ca như thế này. Đã có nhiều bài Vô Lối đưa vào sách giáo khoa cho học sinh học, đó là việc vô cùng tai hại mà cần warninh - cảnh báo.
  Lấy tiền ngân sách – tiền thuế dân đóng hoặc là tiền tư nhân đi nữa cũng là có tội với người đọc và nhân dân!
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2013
Đ –H

 

Phụ lục:
Dịch thơ Việt ra thơ Việt:
Nguyên bản:
Ký ức mưa 
 (Giáng Vân)
 
Bao bọc ngôi nhà mẹ
Những cơn mưa dài hằng đêm
Vách đất nhà mình ẩm lạnh
Ếch kêu vang đồng ngoài
 
Chúng con ngủ
Mơ thấy những dòng sông mưa
Cùng cá tôm đi bơi lội
Đồng làng mênh mông
 
Bao bọc giấc mơ con
Gương mặt mẹ muộn phiền
Bàn tay có những ngó
Những sợi len hay những n dài xanh
Không ngừng đan, nối sợi mưa
Xuyên vào nhau thành áo ấm
Mà mẹ không có áo ấm bao giờ
Con còn nhỏ
 
Không biết mẹ ước gì
Chỉ thấy
 
 
Bao bọc đời chúng con
Mà sao mẹ nhỏ nhoi, yếu đuối
Những mùa mưa không tạnh
Đến giờ..
 
13-12-Bính Tuất
Ngày giỗ mẹ
 Đỗ Hoàng dịch:
 
NHỚ MƯA
 
Bao bọc ngôi nhà mẹ
Hằng đêm mưa kéo dài
Phên đất nhà mình lạnh
Ếch kêu vang đồng ngoài!
 
Lũ chúng con mê ngủ
Mơ những dòng sông mơ
Cùng cá tôm bơi lội
Đồng rộng không thấy bờ.
 
Bao bọc giấc mơ con
Gương mặt mẹ muộn phiền
Tay mẹ xanh từng ngón
Mẹ đan ngày nối đêm!
 
Sợi len như sợi mưa
Kết nhau thành áo ấm
Mẹ có ấm bao giờ
Con thì còn nhỏ lắm.
 
Không biết mẹ ước gì
Đêm mưa mẹ hay khóc
Bao bọc lũ con thơ
Mẹ nhỏ nhoi gầy gộc!
 
Những mùa mưa thấm lạnh
Mẹ ơi! Còn đến giờ!
 
Hà Nội ngày 19 – 11 -2013
                  Đ – H
 
Nếu Giáng Vân viết thay cho những người phụ nữ nạn nhân của giống đực thì sẽ được chị em và người đọc đồng tình hơn!
 
VIẾT CHO CON
(Viết hộ cho những người phụ nữ nhẹ dạ, bất hạnh)
*
Con à, con ạ!
Nước mắt mẹ sung sướng ướt cả dải yếm khi bồng con trên tay.
Con của mẹ bé bỏng nhường này.
Con đã hiện hữu cùng đất trời trong cõi vô cùng rộng lớn
Có con, bây giờ đời  mẹ không còn cô đơn trống rỗng.
Có con phòng mẹ rộng rinh sống động cả một bầu vũ trụ chứa trăng sao
Ôi cái má hồng đào
Thơm thơm mùi sữa.
Có con những ngày buồn thiu của mẹ không còn nữa.
Những ngày lạnh tanh đêm năm canh, ngày sáu khắc vò võ một thân mình.
Những ánh mắt soi mói như kim xuyên qua da thịt của mẹ xuyên qua con tim.
Người ta nói bóng nói gió rằng con là đứa bé không có ai thừa nhận
Là đứa con hoang như chó hoang ngoài đồng cuộc đời sẽ vô vàn bất hạnh.
Mẹ đau suốt tháng ngày mang thai!
 
Con à, con ạ.
Cha con là những người đàn ông đại tài
Họ vô cùng đẹp trai
Như cầu thủ bóng đá Platini của Pháp
Họ giàu như ông Binget
Làm chính trị gia như Obama
Làm thơ giỏi như Lý Bạch, Lok ca
Con đã thừa hưởng tất cả các gien tài năng vỹ đại
Cho con tất để làm nên phận gái.
 
*
Nhưng con ơi!
Mẹ đâu ngờ
Cái giống đực loài nào cũng thế
Nó vô cùng bạc tình, bạc nghĩa.
Nó đánh trống bỏ dùi
Nó mất hút tăm hơi.
Cái giống đực con người thì nó vô cùng tệ bạc.
Nhất là những thắng có chức tước quyền lực.
Nó biến đàn bà thành thú chơi trăng hoa.
Bao nhiêu cô con gái tan cửa nát nhà
Mà không sao vùng vẫy.
 
Hàng ngày,
Nó cũng vào ra nơi cơ quan mẹ đấy
Nhưng nó làm như không bao giờ nhìn thấy đứa con của nó đang lớn dần.
Nó không có một ánh nhìn thiết thân
Cái ánh nhìn mà nó từng vung ra để chiếm đoạt mẹ.
Ôi cái giống đực, loài nào cũng tệ.
 
Con à, con ạ!
Đàn bà cạn lòng như đĩa
Đàn ông bạc nghĩa như vôi.
Ông ngoại từng dạy mẹ rồi
Đi đêm với đàn ông thì phải buộc lưng quần cho chặt.
Mẹ luôn ghi nhớ và nghe lời khi mẹ đã là con gái hồng hào sắc mặt.
Nhưng con ơi.
Làm ở cơ quan đâu chỉ có đi một đêm
Đi nghìn đêm
Lần ấy thì mẹ không mặc quần.
Khổ thân mẹ, mẹ mặc váy.
Cơ sự ra như thế ấy.
 
*
Nhưng mẹ còn may hơn ngàn lần bà ngoại.
Bà ngoại chửa hoang, ông ngoại phải mổ lợn tạ làng.
Họ bắt bà lột hết quần áo dông khắp chợ thôn hết dọc đến ngang.
Sai mõ đào lỗ vừa bỏ bụng thai vào nằm sấp cho hương vệ thi nhau đánh.
Bà con xóm chòm, làng nước gặp ai họ cũng xa lánh
Sợ người chửa hoang như sợ người bị hủi.
Cả một cuộc đời buồn tủi
Bà ngoại đã nuôi mẹ lớn lên như vầy.
 
*
 
Cuộc đời bây giờ đã đổi khác nhiều thay.
Người con gái có quyền làm mẹ.
Nhưng con ơi, sự đời không chỉ thế
Sau này lớn lên con mới biết người con gái có quyền lấy chồng
Người con gái có quyền bắt đàn ông chăm sóc vợ con.
Người đàn ông không được bỏ của chạy lấy người
Người phụ nữ có quyền bắt có trách nhiệm với cuộc đời.
 
*
 
Con à con ơi!
Mẹ biết con thiếu tình thương của cha.
Tình thương của ông bà.
Tình thương cha như núi non cao rộng
Tình thương ông bà như biển đông điệp trùng ngọn sóng.
Vô biên vô cùng.
Con thiếu hụt tình thương ấy như đồng quê thiếu những con sông
Như mái nhà thiếu đi tranh lợp
Như con người chỉ đi một bước.
Vì thế mẹ thương con nhường này!
 
*
Con lớn lên
Xã hội càng đổi thay
Con thay mẹ đòi cho bằng được cái quyền mẹ
Và cái quyền được lấy chồng
Quyền trói buộc đàn ông
Tuân phục nữ quyền muôn thuở.
 
*
Mẹ mong cái ngày ấy không xa nữa
Khi con của mẹ lớn lên.
Con à, con ơi!
 
Hà Nội, ngày 25 – 11 -2013
Đ - H

BÀI VÔ LỐI "THỜI SỰ CUỐI NGÀY" CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

 


BÀI VÔ LỐI "THỜI SỰ CUỐI NGÀY" CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

 
Bài này đã in trên các trang mạng xã hội một vài năm trước. Nó là một trong những bài theo khuynh hướng Vô lối, mà Nguyễn Khoa Điềm là một trong những đại biểu. Nói chung Vô lối là sự bất lực của sáng tạo thi ca. Tôi không muốn động bút vì trang mạng xã hội thì hòa cả làng, không ai chấp. Nhưng nay nó được Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm của Hội Nhà văn Việt Nam in trang trọng chùm thơ Nguyễn Khoa Điềm gồm 7 bài trên số 2 /2013 nên buộc tôi phải dịch nó ra thơ Việt để mọi người hiểu.
 Cách đây mấy năm nhà thơ Triệu Nguyễn có viết cho tôi đại ý là:
“Thiều chi thơ Tống, thơ Đường
Mà sao ngửi cái mắm tương thối trời
Thương cho bác Đỗ bạn tôi
Lại đi dịch cái dở hơi thơ nhà!...”
Tôi vẫn dịch cho mọi người rõ.
 
Nguyễn Khoa Điềm
Nguyên văn:
THỜI SỰ CUỐI NGÀY
 
5 giờ chiều. Từ trên cầu Tràng Tiền
Một cô gái nhảy xuống sông tự tử
Ngay lập tức có hai chàng trai
Từ cầu lao xuống nước
Vớt cô lên
Cả ba ra về. Không một lời để lại
 
Tôi chỉ muốn nói to:
Tôi mừng cho sông Hương
Trong sạch
Tôi mừng cho nước tôi
Vẫn còn Thạch Sanh
Dù không ít tên Lý Thông đĩ bợm
3 – 6 -2013
Ng – Kh – Đ

Đỗ Hoàng: Bài Vô lối này rất kém. Các bạn học văn chương đã biết bài “Chuyện hai người tự tử” của Lê Đạt nổi tiếng làm thay đổi những trường phái thơ tụng ca thời 1956 – 1957 ở miền Bắc Việt Nam.
 
Đỗ Hoàng
Dịch ra thơ Việt:
 
GÁI TRINH TỰ TỬ
 
Tràng Tiền chiều muộn dòng Hương
Gái trinh tự tử nát xương còn gì
Hai người lực lưỡng tu mi
Từ cầu lao xuống tức thì vớt lên.
 
Ra về không để tuổi tên
Tôi gào muốn vỡ hai bên bên bờ:
"Mừng Hương Giang sạch đường tơ
Mừng cho đất nước như thơ trong lành.
Vẫn còn hảo hán Thạch Sanh
Dù cho đĩ bợm Lý Thông vẫn còn!"
 
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2013
Đ -H

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói Vô Lối Nguyễn Quang Thiều nốc ao!

 


Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói Vô Lối Nguyễn Quang Thiều nốc ao!


  Mấy năm trước tôi có nhiệm làm tiêu binh cho các cuộc quy tiên của các nhà văn là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
 Hôm ấy có đám tang của nhà văn Kim Lân ở nhà tang lễ Trần Thánh Tông, Hà Nội.
 Tôi vừa gửi xe đi bách bộ vào chỗ lễ thì gặp nhà thơ Trần Đăng Khoa. Trần Đăng Khoa nổi tiếng từ bé, nên tôi hay gọi Thần Đồng để xưng hô, vì tôi lớn hơn Khoa 10 tuổi mà chẳng danh giá gì!
 Trần Đăng Khoa là người kỳ tài trong việc thẩm thơ.
  Hồi tôi đang làm biên tập ở tờ Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, một lần đến nhà riêng anh xin bài thơ “Lính trẻ” để in trên Tạp chí.
 Nhà Thần Đồng lúc ấy đang là căn hộ tập thể được quân đội phân cho trên đường Lý Nam Đế.
 Vào nhà thấy tập thơ “ Sóng Reo” hay “Suối Reo:” gì đó của Nguyễn Đình Thi tặng Trần Đăng Khoa.
 Tôi chưa nói gì thì Khoa đã mỉa:
-         Bác thấy đó, tập này dở hết chỗ nói.
Tôi trăm phần trăm khâm phục:
-         Thần Đồng thật là có con mắt xanh hơn người!
Tôi càng phục Khoa từ đó.
 Nhưng Khoa không bao giờ làm mất lòng ai. Chắc Khoa đã học cách ứng xử của các nhà thơ tài danh lớp trước như Xuân Diệu, Huy Cận. Không thích thì cười cho qua.
 Rồi Khoa làm được mấy cái chức còi nên Khoa càng im lặng. Kiểu mặc mẹ chùng mày, ông phải lo cơm ăn áo mặc, việc gì chen vào bình phẩm ba cái Vô lối của chúng mày!
    Đi lên gần Khoa, tôi nói: - Thần Đổng cũng đi đưa tang Kim Lân à?
   Khoa cũng cười nhưng không vào chủ đề mà lại nói:
-         Bác đả Nguyễn Quang Thiều hay đấy!

                Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Thần Đồng cũng đọc mạng sao? – Tôi hơi ngạc nhiên.
Khoa cười: - Bác tưởng bọn chúng tôi không đọc mạng đấy chắc? Tôi là một cư dân mạng!
Hóa ra vừa rồi, nhân Nguyễn Quang Thiều đưa lên cái bài “Tấm Thảm Thổ Nhĩ Kỳ” bị la ó, tôi đọc nó tôi thấy đúng là một thứ bà dằn vô tích sự, thơ không ra thơ, văn không ra văn, một loại quái thai của văn chương mà lại được đám ba đầu sáu tay tung hô hết cỡ, tôi liền chuyển nó ra thể thơ song thất lục bát và lục bát để cho mọi người còn biết nó là cái gì. Tôi không ngờ Khoa lại đọc nó.
 Tôi nói: - Tôi định viết một bài phê phán hoàn chình nhưng chưa làm xong!
Khoa nói ngay: - Bác đả thế là Nguyễn Quang Thiều nốc ao rồi, không cần nhiều lời nữa!
Hà Nội ngày 15 - 5 -2012
Đỗ Hoàng