Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

CÕI LẶNG (*) CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM - YẾU DƯỚI MỨC TRUNG BÌNH

 CÕI LẶNG (*) CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM  - YẾU DƯỚI MỨC TRUNG BÌNH 

    
   Tập Cõi Lặng của Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2007.
  Tập có 56 bài, 9 bài thơ viết theo hình thức truyền thống (có bài lỗi vận – Tắm bến Hà Khê, Đọc thơ tứ tuyệt của Đỗ Mục, Người nằm bên Hồ Tây...), 44 bài viết theo “tân hình thức”, không vần không điệu, tức là Vô lối, 3 bài theo thể hiện đại – thơ tự do.
 Nhiều người tìm đọc vì sự tò mò là chính.
Họ xem ông nhà thơ làm quan to tột đỉnh khi hồi hưu có như những ông quan xưa hồi hưu, có khác gì thường dân đang quằn quại khổ đau dưới một sự toàn trị không. Hoá ra ông “quan to” hồi hưu lại hậm hực, ấm ức, tiếc rẻ, khẩu khí có khi còn quá đáng hơn cả dân thường, bài Vô lối sau:
“Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cạc vi- dít, nắm đấm mi – crô. 
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường...
...Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ...”
(Bây giờ là lúc).
  Ông quan to, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự nuối tiếc, bực bội, cả căm tức khi mình bị buộc về hưu giữa chừng, đang lúc kiếm ra nhiều bỗng lộc. Tiếc không thay đổi được thời gian, thời gian đã đóng đinh lên thân thể; hối không làm được như gã quan Tàu trước đây đổi 83 tuổi ra 38 tuổi để tại vị nhiều thập kỷ nữa, để hốt vàng, hốt bạc. Bao nhiêu cái tiếc, bao nhiêu cái tức, cái căm.
 (Nghĩ về mất chức mà đau
Từ nay thôi hết xe tàu vi vo
 (Vè cụ Thượng mất chức – Dân gian)
  Làm quan đời nay nó hái ra toàn ngọc tạ vàng tấn, chứ không phải chỉ ba đấu gạo như tri huyện, nhà thơ Đào Tiềm xưa, và 40 đô la/tháng như Phó tổng thống, nhà thơ Bungari , Đimi trô va... nên các quan khát chức, khát quyền điên dại, oán trách đồng liêu hảm hại, oán trách tạo hoá phôi pha tuổi tác. Sự hồi hưu ở quê là một sự đi đày, chứ không phải là từ quan về vui thú điền viên như quan xưa:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Mà:
“Tóc trắng như thời gian thích chữ lên trán 
Đày anh về quê
Không thể chạy trốn số phận”
(Nhặt ghi)
   Và như vậy hoá ra những bài thơ viết về quê hương, cố quận như: Làng Phao Võng, Cánh đồng buổi chiều, Thành phố sớm xuân, Viết cuối năm, Về quê đón tết... đều giả hết!
   Nguyễn Khoa Điềm không dấu mình nỗi đam mê quyền lực, đam mê làm quan đến nỗi Huế và Hà Nội thời giao thông hiện đại, xe con đời mới to chỉ đỉ 7 tiếng đồng hồ là đến nhà mà để lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông. Lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông không phải lo dân chống bão lụt, chống hạn hán, lo cầm quân đánh giặc ngoài biên thuỳ, mà lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông là cấm mạng, chặn tường lửa, cấm tư tưởng dân chủ, cấm những người” nhìn ra bốn phương rực rỡ văn minh, tức tối nước nhà cam đường hủ bại” lỡ vì:
“Đã lâu anh chưa về Huế
Hẹn vào thu rồi lỡ cả mùa đông
Anh mải mê trên đường hoạn lộ
Ngảnh về quê hư ảo một vầng trăng”
(Viết cuối năm)
 Vì đam mê làm quan, đam mê quyền lực nên ông quan Nguyễn Khoa Điềm không dấu một thủ đoạn chính trị nào để đạt quyền chức:
“Nhiều khi đá đá dạy ta mềm mỏng”
(Hy vọng)
  Đến đây chúng ta nhớ tích cũ tay quan Lưu Sử Đức cũng bên Tàu. (Làm quan thì phải học Tàu).
  Ông bố muốn con làm quan to nên ra tình huống như nền giáo dục tiên tiến các nước hay ra tình huống cho sinh viên thực hành.
   Ông bố nói:
 - Nếu quan trên mắng mỏ nhổ nước bọt vào mặt con thì con phải làm sao?
Lưu Sử Đức thành thực trả lời:
 - Con im lặng và sẽ lấy khăn lau đi!
 Ông bố giật nảy mình như đỉa phải vôi:
- Không được! Không được! Hỏng hết bánh kẹo! Hỏng hết bánh kẹo! Cứ để vậy, cứ để vậy, cho nó tự khô!
   Nếu Lưu Sử Đức sồng lại thì phải đến học ông quan “mềm mỏng” Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm thêm mấy chiêu nữa!
   Vì đam mê quyền lực, vì súng đẻ ra chính quyền (Mao Trạch Đông) nên tình thương con người trong thơ Nguyễn Khoa Điềm nhạt nhẽo, sống sượng, sáo rỗng, vô tình, không thật một chút nào. Những câu đại ngôn sau vừa kém thi pháp, vừa kém nhân đạo:
“Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống với người, chết vì người”
(Cõi lặng)
  Nhiều nhà thơ ở Huế bình và chê Cõi Lặng là tình cảm vờ vịt. Thật không sai chút nào!
  Nhiều bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm viết theo kiểu Vô lối dưới vè như: Anh đợi, Ngồi với cây long não nhà bạn, Hoa quỳ vàng...
 “Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội...
(Anh đợi)
   Cõi lặng có nhiều bài thua cả những bài ở các tập thơ trước như bài Tháng tư:
“ Tháng tư lá xà cừ xào xạc mặt đường
Dãy tường cổ nảy những chùm lá mới
Hà Nội thì thầm nghìn tuổi
Mừng Đảng qua một mùa đại hội”
(Tháng tư)
“Tháng tư dông chuyển bồn chồn
Hạt mưa vây ấm, nỗi buồn cách xa
Phía em, phía của quê nhà
Trắng là tóc mẹ, xanh là áo em!”
(Đất ngoại ô)
 Trong Cõi Lặng Nguyễn Khoa Điềm lạm dụng từ Hán Việt chưa Việt hoá như: Vô ngôn, Hoạn lộ, Hư tự...
“Bao giờ, nơi nào anh đọc được mình
Qua nỗi đau nhân loại
Vô ngôn
Hư tự”
(Những quyển sách)
 
 Khách quan mà nói thì những bài thơ mà Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết theo thể thơ truyền thống khá hơn một chút, có thơ hơn một chút không phải như các bài ôp lối hủ nút, lởm khởm như: Mưa thu, Bạn thơ, Người nằm bên Hồ Tây, Lên núi thăm chùa...”
“Ta ngồi như cội trúc
Gội mưa thu bốn bề
Nghĩ mình không lỗi hẹn
Với người đang xa quê
 
Chỉ mong em trở lại
Kịp hái chùm tóc tiên
Cắm lên bình lam ngọc
Mừng một ngày lãng quên”
(Mưa thu)
   Cõi lặng là một tập sách yếu kém dưới mức trung bình.
 
Hà Nội ngày 1-2 – 2012
 Đỗ Hoàng
(*) Nhà xuất bản Văn học năm 2007

 
            DỊCH  VÔ LỐI CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
 
Nguyên bản:
 
CÕI LẶNG (*)
 
Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình
Với nỗi buồn trong sạch
 
Cõi lặng. Không tiếng động nào khác
 
Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống vì người, chết vì người
 
Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác
Đến những miền trong xanh...
 Ngày 17.1.2003
--
(*) In trong tập Cõi Lặng – NXB Văn học năm 2007
 
Viết liền văn xuôi:
 
CÕI LẶNG
 
Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình với nỗi buồn trong sạch. Cõi lặng, không một tiếng động nào khác - Tiếng đập trái tim anh. Người ơi, tôi yêu người tha thiết. Tôi sống với người, chết vì người. Cõi lặng, tôi vượt qua ghềnh thác đến những miền trong xanh.
 
Nhận xét:
  Đây là điển hình cho loại Vô lối đang thịnh hành. Nó tù mù, tờ mờ, chuột không ra chuột dơi không ra dơi. Nếu gọi là thơ thì là một sự xúc phạm rất lớn với thi ca!
 Khi chuyển những bài Vô lối qua cách viết kiểu văn xuôi mới biết các bài Vô lối ấy thì thấy nó kệch cỡm, bệnh hoạn biết nhường nào. Đúng là một quái thai của văn chương.
  Đấy là mới nhìn hình thức biểu hiện, chứ soi vào ý tứ, câu chữ và tu từ ( hay là thi pháp) thì không biết gọi chúng là gì!
 Riêng hai câu đại ngôn “Người ơi, tôi yêu người tha thiết/ Tôi sống vì người, chết vì người” thì giống như con sói hú lên: “Cừu ơi, ta yêu Cừu tha thiết/ Ta sống vì Cừu, ta chết vì Cừu!”
 
Dịch sang thơ Việt:
Đỗ Hoàng dịch:
              
    CÕI LẶNG
 
Cõi lặng, anh soi thật mình
Nỗi buồn trong sạch, trắng trinh giữa trời.
 
Cõi lặng, không tiếng nào rơi,
Tiếng tim anh đập muôn đời nào yên!
 
Yêu người tha thiết, thiêng liêng,
Nguyện cùng sống chết, đảo điên vì người!
 
Cõi lặng, ghềnh thác vượt rồi,
Đến miền trong sạch, tuyệt vời xanh trong!
 
Hà Nội ngày  29 - 1 – 2012
 
 
Nguyễn Khoa Điềm
 
Nguyên bản
 
ANH ĐỢI (*)
 
Đến sớm một ngày
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh đợi
 
Đánh đổ một đời
Cuối đất cùng trời
Anh đợi
 
Anh tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương xanh thẳm
Thương nhớ bồi hồi
Anh đợi
 
Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều bạc tóc
Thương nhớ lao lung
Một thời trận mạc
Một thời cấy trồng
Anh là hạt thóc
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông
 
Còn chăng điều tốt
Trong cuộc đời này?
Còn bao nông mặn
Em dành hai ta?
Ngàn năm, trăm năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay
Đường xa để lại
Anh còn ngoái lại
Những lời hôm qua:
          Anh đợi!
Ngày 27 – 9 -2006
 
Nhà thơ Vũ Quần Phương có bài Đợi
“Anh đứng một giờ
Đất lạ thành quen”
Một sự phát giác từ hiện thực, rất hay, ai cũng biết  nhưng không ai nói được. Bài Anh đợi của Nguyễn Khoa Điềm vô duyên hết chỗ nói. Nó vừa quê, vừa cổ lỗ sỉ, không có phát hiện gì mới, lại dưới cả vè thì độc giả làm sao chấp nhập được!
 
Đỗ Hoàng Tạm dịch qua vè truyền thống người Việt:
 
VÈ ANH ĐỢI
 
Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi.
Đến sớm một ngày
Không thì trời tối.
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh chờ, anh đợi
 
Anh tìm, tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương sáng tối
Thương nhớ bồi hồi
Anh chờ, anh đợi.
 
Vở sách trôi nổi
Hai tay bụi trần
Núi cao anh lần
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều tóc rối
Thương nhớ lao lung
Chiến trường lạc lối
Một thời cấy trồng
Anh hạt thóc thối
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông!
 
Còn chăng điều tốt,
Trong cuốc đời này?
Còn bao nồng mặn
Dành ta, ai hay?
Ngàn năm, ngàn năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay.
Đường xa để lại
Anh ngoái lần này,
Những lời hôm qua!
Vẫn còn chói lọi!
Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi!
 
Hà Nội ngày 29 – 1 - 2012
 
Ngyễn Khoa Điềm
 
Nguyên bản:
 
NGỒI VỚI CÂY LONG NÃO NHÀ BẠN
 
Ngồi với tôi mỏi mê
Anh quay vào bếp
Xong nồi lục đục
Mỗi âm thanh dễ nhận ra
Củi – diêm - nước mắm
Và những gì gian khó
Không âm thanh
 
Tôi một mình
Một nình với cây long não
Cây long não già mà lá trẻ
Như ta giữa cuộc đời này
Cây long não lặng im
Cây long não trịu trần
Năm tháng bên nhau
Nhận lấy phấn bụi bặm
Trả ta hương lành
Và một chút gì sâu xa
Không rõ nữa nữa
 
Bây giờ cây tiếp chuyện tôi
Gác một chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Những trang chứa biết đến của một người cầm bút...
 
Bên cầu Phủ Cam, tháng 5 năm 1982
 
Đỗ Hoàng dịch:
 
VỚI BẠN
 
Ngồi với tôi mỏi mê
Anh lại quay vào bếp
Tiếng song nồi, nhôm thép
Âm thanh dễ nhận ra
 
Nước mắm, muối, diêm, cà...
Vì những gì gian khó
Chắng có một âm thanh!
 
Còn tôi chỉ một manh
Một mình với long não
Long não già lá trẻ
Như ta cuộc đời này.
Cây long não lặng im
Một thân hình trần trụi
Năm tháng ta bên nhau
Nhận lấy phần bậm bụi
Trả cho ta hương lành
Chút sâu xa vời vợi
Mà không còn rõ nữa.
 
Bây giờ cây tiếp tôi
Gác chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Trang sách còn viết dở!...
 
Hà Nội ngày 29- 1 – 2012
Nhà thơ  Đỗ Hoàng
 
Nguyễn Khoa Điềm
Nguyên bản:
 
HOA QUỲ VÀNG
 
Thông đã mọc nghìn năm
Thành phố trăm năm
Anh đến một ngày
Đà Lạt trẻ
Mà anh thì quá tuổi
Hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa
 
Hoa quỳ vàng
Ái ngại
Nở chờ anh
 
Đã sang thu?
Là hạ?
Vẫn là đông?
Không cao thấp
Sao chập chùng
 
Ẩn hiện
Hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng
Cánh mỏng
Hồn cao nguyên
Nương náu đến bao dung
 
Em thanh xuân
Anh quá đỗi
Ngại ngùng với sương gió
Đượm buồm từng tấc cỏ
Đà Lạt
Anh có gì
Để nhớ
Sao âm thầm lưu luyến
Tôi muôn xưa
 
Hoa quỳ vàng
Em chợt đến
Sau mưa
Để chợt héo
Trước ngày đông
Tháng giá
Anh chợt đến
Và chợt về
Xa lạ
Chợt trăm năm
Một khoảnh khắc
Giao mùa
Hoa quỳ vàng
Hoa quỳ nở
Như mưa.
Ngày  22 .1. 1993
 
Nhận xét:
Một ông trên 70 tuổi mang danh nhà thơ, giữ trọng trách quốc gia mà viết như thế này thì hoạ là điên loạn.
 
Dịch dễ hiểu:
 
HOA QUỲ VÀNG
 
Thông đã nghìn năm
Phố thị trăm năm
Anh đến một ngày
Ơi! Đà Lạt trẻ.
Anh thì quá thể
Mà hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa
Là hoa quỳ vàng
Chút gì ái ngại
Nở chờ anh sang!
 
Là đã tới thu?
Hay là đang hạ?
Hay vẫn là đông
Mịt mùng sương giá.
Không cao, không thấp
Mà sao vẫn chập chùng!
 
Mờ mờ ẩn hiện
Ơi, hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng cánh mỏng
Hớp hồn cao nguyên
Chút gì nương náu
Bao dung nhân duyên!
 
Em mãi thanh xuân
Anh thì quá đỗi
Ngại ngùng sương núi
Tấc có đượm buồm
Đà Lạt tơ vương.
 
Anh có gì nhớ
Mà sao âm thầm
Mà sao lưu luyến
Tới buồn muôn xưa!
 
Ơi hoa quỳ vàng
Và em chợt đến
Sau mưa mặn nồng
Và để chợt héo
Tháng giá ngày đông
Và anh chợt đến
V à lại chợt về
Xa lạ buồn không!
Bất chợt trăm năm
Trong một khoảnh khắc
Trời đất giao mùa
 
Hoa quỳ vàng nở
Rỡ ràng như mưa...
 
Hà Nội ngày 29 – 1- 2012
Đỗ Hoàng
 
Nhận xét:
 
Bài này kém đến mức không muốn bàn nữa! Chí nguy! Chí nguy!
Hà Nội ngày 29- 1 – 2012
 Đỗ Hoàng

BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE - YẾU KÉM SÁNG TẠO

 

BẦU TRỜI KHÔNG MÁI CHE - YẾU KÉM SÁNG TẠO
“Dịch” Vô lối của Mai Văn Phấn
 
     Mai Văn Phấn trước đây làm thơ tuy không nổi trội nhưng còn đọc được. Sau đó thi theo tân hình thức, theo hậu hậu hiện đại nên viết thành một loại thể mà tôi (Đỗ Hoàng) đặt cho các kiểu viết của nhiều người hiện nay là Vô lối. Thật ra, đó là một thứ bà dằn, tắc tỵ, hủ nút, dở dơi, dở chuột, không hiểu ra làm sao. Tôi đã viết nhiều tiểu luận nói rằng: Bây giờ nhiều kẻ viết yêu cầu người đọc, người thưởng thức thơ ca phải có trình độ văn hóa cao, uyên bác, từng trải, có học vấn thâm hậu. Nhưng thật phi lý là những người viết ra kiểu Vô lối  như trên thì  trình độ học vẫn, trình độ văn hóa lại tầm tầm, thậm chí còn yếu kém nữa. Vậy, nên xin chuyển bài Vô lối cúa Mai Văn Phấn sau đây ra thơ Việt. Mai Văn Phấn biết làm thơ lục bát thì cũng có thể tự mình chuyển được như tôi.

 

Nguyên bản:

TẮM ĐẦU NĂM (1) 
 
thanh tẩy (2)  mãi vẫn không thấy sạch
quay về tắm bằng ngọn đèn
 
thử đưa bờ vai về phía ánh sáng
rồi cả hai tay
bàn chân, cằm, đầu gối
cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan
 
xối ánh sáng  vào từng góc khuất
gốc khuất  như lò thúc mầm  (3)
như thép nóng đem tôi vào nước
như quả trứng trong ổ đang ấp
rễ thân cành đã chết đâm ngang
 
tắm gội cho mùa xuân về
vừa lặn vào ánh sáng
vừa gọi thầm ông bà, cha mẹ
cơ thể bốc cao về phía ngọn đèn
 
vừa xối mạnh, vừa gọi tên em
ánh sáng bồng bềnh, bụng mang, dạ chửa
thử gọi một ai xa lắc, xa lơ
ngọn đèn lặng phắc càng tỏ
càng tỏ
 
(1) Bài in trên báo Văn nghệ. Tạp chí Nhà văn số 4/ 20011 và trên mạng
(2) Thanh tẩy: Bài này dùng nhiều chữ vô lối, cảm vô lối, lung tung, lang tang. Lạm dụng từ Hán Việt như thanh tẩy. Trong tiếng Hán thanh có  5 chữ, tẩy có 3 chữ. Thanh ở đây theo nghĩa bài là trong, sạch, tẩy ở đây là rửa, xối. Nếu dùng thuần Việt thì nên viết là rửa sạch.
(3) Lò thúc mầm là lò ươm giống lúa. Các hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc thời thập kỷ 60, 70 thế kỷ trước hay dùng.

 

Viết liền văn xuôi:
TẮM ĐÂU NĂM    
Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch. Quay về tắm bằng ngọn đèn. Thử đưa bờ vai về phía ánh sáng, rồi cả hai tay, bàn chân, đầu gối, cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan. Xối ánh sáng vào từng góc khuất. Góc khuất như lò thúc mầm, như thép nóng đem tôi vào nước, như quả trứng trong ổ đang ấp, rễ thân cành đã chết đâm ngang. Tắm gội cho mùa xuân về, Vừa lặn vào ánh sáng, vừa thầm gọi ông bà cha mẹ. Cơ thể bốc cao về phía ngọn đèn, vừa xối mạnh, vừa gọi tên em. Ánh sáng bồng bềnh, bụng mang dạ chửa. Thử gọi một ai, xa lắc, xa lơ. Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ.
 
Nhận xét:
 “Tắm đầu năm” là một quái thai của sáng tạo. Bài này là một trong hàng loạt bài Vô Lối của Tập “Bầu trời không mái che” của Mai Văn Phấn, vừa được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 - 2011 nó thể hiện một sự tắt tỵ, bất lực trong sáng tạo dẫn đến một cách thể hiện quái dị, mung lung, sai lạc cả quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý bình thường của con người, phong tục tập quán của con người. Người ta tắm gội tất niên, không ai nói tắm gội đầu năm để cho xuân về. Xuân đã về từ o giờ 1 giây của đêm giao thừa rồi. Từ ngữ thì cũ rích, đầy Hán Việt chưa Việt hoá. Mái Văn Phấn cố tìm tòi là đáng khen nhưng rời vào lảm nhảm, lung tung làm hại thơ ca thì đáng chê trách vô cùng. Thành công của thơ ca không chỉ ở gọt rũa câu chữ, thành công của thơ ca là ngoài cuộc sống.
Cổnhânnói
“Điêu trác tự thị văn chương bệnh,

Kỳ hiểm do vu khí cốt đa!”
(Gọt rũa là bệnh của văn chương,
Kỳ quái, rắc rồi làm hại hồn thơ)
Hay như Lục Du khuyên con:
“ Như quả dục học thi,
Công phu tại thi ngoại”
( Nếu con thành tâm học làm thơ
Thì thơ thần diệu có ở ngoài cuộc đời chứ không ngồi chiết tự con chữ))
 
“Dịch”
 
TẮM ĐÂU NĂM
 
Rửa nhiều nỏ sạch chi mô,
Quay về rủ tóc tắm khô dưới đèn
Nghiêng vai ánh sáng, che đen.
Chân tay, mặt mũi ho hen phơi trần!
 
Xối vàng thớ thịt, đường gân,
Góc khuất như lẫm thúc mầm đang ươm.
Giống như thép nóng tôi chườm,
Giống như trứng ấp ổ rơm đợi ngày
Giống như chùm rễ chiết cây
Tắm gội cho sạch xuân nay sẽ về.
 
Lặn vào ánh sáng bùa mê
Gọi thầm cha mẹ, thôn quê, ông bà…
Thân hình bốc lửa chớp lòa
Vừa kỳ cọ, xối gọi òa tên em
Bụng mang dạ chửa, bồng bên
Xa lơ, xa lắc nổi lên ơ hờ
Ngọn đèn lặng phắc như tờ
Càng lay, càng tỏ đôi bờ trần gian!
 
Hà Nội  28 – 4 – 2011
Đỗ Hoàng
 

ĐỖ DOÃN PHƯƠNG VÔ LỐI, TẮC TỴ HƠN CẢ THANH TÂM TUYỀN

 

Đỗ Hoàng

ĐỖ DOÃN PHƯƠNG VÔ LỐI, TẮC TỴ HƠN CẢ THANH TÂM TUYỀN…

Năm nay Hội Nhà văn xét trao giải thưởng cho đến 4 tập thơ (2010 và 2011), điều này gây kinh ngạc trong làng văn, khi trong thi giới ít người thừa nhận giá trị của nhau, vì thế mà liên tục mấy năm thơ đều mất mùa, các giải thưởng thơ cũng không có giải nhất. Lẽ thường, trong mỗi năm chỉ chọn 1 tập trên một lĩnh vực để trao giải (văn, thơ, dịch, phê bình), "bó đũa chọn cột cờ", để vừa khuyến khích tác giả đồng thời cũng ghi nhận và tưởng thưởng xứng đáng với lao động người viết. Tập thơ "Hoan ca" của Đỗ Doãn Phương đã đoạt giải thưởng Hội Nhà văn 2011 cùng với tập "Ngày linh hương nở sáng" của Đinh Thị Như Thúy là tín hiệu đáng mừng cho thơ ca. Hình như vây cánh thơ trong Hội đồng xét giải thưởng Hội Nhà văn đang thắng thế? Việc này cho thấy, các UV BCH Hội Nhà văn đang ngày càng có quyền lực hơn với lá phiếu của mình. Chẳng phải là vui sao? Văn chương + giới thiệu bài viết của nhà thơ Đỗ Hoàng như một cách nhìn khác về tập thơ "Hoan ca". (Vanchuong +)

 

Từ trái: nhà thơ Đỗ Doãn Phương (Phó TBT TT&VH), PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, 
TBT báo TT&VH
 
Trương Lê Kim Hoa, và nhà báo Phạm Thanh Hà.

 

dohoang | 08 January, 2012 16:19

“Dịch” Vô Lối  Đỗ Doãn Phương

Đỗ Doãn Phương V Ô L ỐI, tắc tỵ hơn cả Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Phú Trạm – Inra sara, Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn KHoa Điềm, Nguyễn Phan Quế Mai..

Đỗ Doãn Phương

Nguyên bản:

BA KHÚC NIỆM

Khúc 1
Ngài ở trong ký ức tôi, nhưng tôi không sao nhớ nổi mặt Ngài
Tôi nhận thấy đâu đó quanh tôi Ngài đang tồn tại
Tâm hồn tôi rối loạn
Khắp mặt đất chạy rông

Khúc 2
Bước chân trượt trên đá sỏi
Xuống sườn dốc lòng hồ
Nơi ấy nước nằm lõa lồ trên đất
Thèm được tan biến

Đồi nhả ra những viên đá
Và làm đau những đầu lưỡi sóng
Và làm rách toạc mặt nước
Chưa thể hóa sương

Tôi đã đến và mặt đất nơi đây từ chối
Tôi như con tôm bật mình trên nền đồi đá sỏi
Thèm được dấu hơi thở mình trong nước
Mà tinh thần cứ như vật nhọn cứng nhô lên


Khúc 3
Ngọn lửa nhú lên, hé mắt nhìn
Bốn phía thế gian ập vào nó
Không một tiếng kêu thét
Tắt phụt
Mầu tro.

Viết liền văn xuôi

Ba khúc niệm

Khúc 1:

Ngài ở trong lý ức tôi, nhưng tôi không sao nhớ nỗi mặt Ngài. Tôi nhận thấy đâu đó quanh tôi, Ngài đang tồn tại. Tâm hồn tôi rối loạn, khắp mặt đất chạy rông!

Khúc 2:

Bước chân trượt trên đá sỏi, xuống dốc lòng hồ. Nơi ấy nước nằm loã lồ trên đất. Thèm được tan biến. Đồi nhả ra những viên đá và làm đau những đầu lưỡi sóng, và làm rách toạc mặt nước chưa thể hoá sương. Tôi đã đến và mặt đất nơi đây từ chối. Tôi như con tôm bật mình trên nền đá sỏi. Thèm được dấu hơi thở mình trong nước, mà tinh thần cứ như vật nhọn cứng nhô lên!

Khúc 3:

Ngọn lửa nhú lên hé mắt nhìn, bốn phía thế gian ập vào nó. Không một tiếng kêu thét, tắt phụt. Màu tro.

 Nhận xét: Đọc mới thấy vô nghĩa, rối rắm, văn xuôi không ra văn xuôi, vè không ra vè, lởm ca, lởm cởm như một kẻ tâm thần nặng, bệnh hoạn...

“Dịch” bài Vô Lối này:

BA KHÚC KHẤN

Khúc 1

Tâm tôi không nhớ nỗi Ngài.

Quanh tôi Ngài vẫn lai rai tại tồn !

Ôi, Tôi rối loạn tâm hồn

Khắp mặt đất rộng chân dồn chạy rông!

 

Khúc 2

Chân trượt trên đá sỏi

Xuống bờ dốc lòng hồ

Nước nằm đất loã lồ

Rất thèm được tan biến!

 

Đồi nhả viên đá hiếm

Làm đầu lưỡi sóng đau.

Và làm toạc mặt nước

Chưa hoá sương được đâu!

 

Tôi đến, đất từ chối.

Như con tôm trên sỏi

Thèm thở trong nước lành.

Nhọn cứng một tinh thần!

 

Khúc 3

Ngọn lửa nhú lên, hé mắt nhìn

Thế gian bốn phía ốp như đinh

Không nghe một tiếng kêu, tiếng thét

Tắt phụt màu tro, thật khiếp kinh!

Đỗ Hoàng dịch 

Hà Nội ngày 8 -1 - 1012

VĂN CHƯƠNG GIẬT LÙI

Thời Lê Cảnh Hưng, Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm khoảng 1740 -1742, đến nay cũng đã gần 300 năm. Buổi ấy Hán học đang bao trùm từ trong triều ra ngoài quận mà các dịch giả Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích đã Việt hoá một cách tài tình. Đến nay gần 300 năm sau có người lại Hán hoá trở lại thơ ca của mình. Điển hình là tập Hoan Ca của Đỗ Doãn Phương vừa được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải năm 2011

Đọc xem:

“Vân tùng Giới Tử lạp Lâu Lan,

Tiểu hướng Man Khê đàm Mã Viện

Quân phi trang phục hồng như hà

Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết

 

(Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,

Dẹp Man Khê nhờ sự Phục Ba

Áo chàng đỏ tựa ráng pha,

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in)

 

Hay:

“Trương phu thiên lý chí mã cách,

Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao”

 

(Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái Sơn nhự tựa hồng mao)

Hay

“Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt,

Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn”

(Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên Sơn)


Đỗ Hoàng

 

 "Hoan Ca" của Đỗ Doãn Phương làm hỏng tiếng Việt và thơ Việt

Tập Hoan ca của Đỗ Doãn Phương nên cho điểm Zê rô (Dưới điểm 1) về tựa đề

Đã làm văn chương  trong cõi 
Việt thì dù tiếng Anh, tiếng Em giỏi đến mức nào thì cũng  phải biết Hán Việt, phải học Hán Việt, chưa nói học tiếng Trung Quốc mới mong làm văn chương. Đỗ Doãn Phương chắc giỏi tiếng Tàu nên văn chương toàn Tàu Ô.(Hoan Ca)

   Vì Đỗ Doãn Phương còn trẻ, người trẻ thì tôi không dám động đến. Nhưng vừa rồi, Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng cho tập thơ Hoan Ca năm 2011, nên buộc tôi phải lên tiếng. Tôi có lướt qua nội dung, nó cũng là một loại Vô Lối đang thịnh hành, tất nhiên hơn các cây Vô Lối khác một chút, rỗi rãi tôi sẽ dịch một vài bài vô lối của Đỗ Doãn Phương.

  Quay lại tựa đề. Tôi nhớ hơn 25 năm trước, nhà văn Lê Minh đến nói chuyện với anh chị em học viên Nguyễn Du khoá 3. Nhà văn kể rằng: “Tôi có tập truyện, Biên tập viên Nhà xuất bản nọ bào tôi nên đổi tên là “ Đảo cô đơn” thì hay hơn. Tôi nói: “ Tiếng Việt có thiếu đâu mà lấy tiếng Tàu. Tôi vẫn để là “Đảo một mình”.

    Tựa đề Hoan Ca của Đỗ Doãn Phương 100% tiếng Hán. Hoan  có 6 chữ Hoan. Hoan có bộ thảo, hai chữ khẩu, bộ nhân đứng thì hợp hơn, có 2 nghĩa 1- Vui mừng, 2- trái gái yêu nhau cũng gọi là hoan, bên gái gọi bên trai là hoan, cũng như tiếng chàng của ta.

Ca: cũng có 6 chữ. Ca ở đây có 2 chữ khẩu 1- ngợi hát như ca thi (ngâm thơ) 2- Khúc  hát hợp với âm gọi là ca nhạc 3- Bài ca

Hoan Ca của Đỗ Doãn Phương – Đúng nghĩa là Bài ca vui (Vì trong tập còn có bi ca - bài ca  buồn nữa - lại cũng chữ Hán)

  Thế mà có một trang mạng đánh giá: Đỗ Doàn Phương người “quét sạch” thơ trẻ hiện đại. Nhà thơ Đỗ Doãn Phương với những nổ lực kỳ lạ” làm trong sáng tiếng Việt” trong những ngọn triều nhục cảm. Như thế thì có mỉa mai cho cõi Việt không!

  Tập Hoan Ca của Đỗ Doãn Phương không nên in vì nó làm hỏng tiếng Việt và thơ Việt, nói chi đến trao giải. Thật chuyện những người thích đùa!

Hà nội ngày 5 thang 1 năm 2012

Nhà thơ Đỗ Hoàng

 Đại Vô lối Đỗ Doãn Phương

Chủ nhật - 08/01/2012 16:41

·       

·       

·       

 

“Dịch” Vô Lối  Đỗ Doãn Phương

Đỗ Doãn Phương VÔ LỐI, tắc tỵ hơn cả Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Phú Trạm – Inra sara, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thuỳ Linh, Văn Cầm Hải, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Hoàng Vũ Thuật..

Đỗ Doãn Phương

Nguyên bản:

BA KHÚC NIỆM

Khúc 1
Ngài ở trong ký ức tôi, nhưng tôi không sao nhớ nổi mặt Ngài
Tôi nhận thấy đâu đó quanh tôi Ngài đang tồn tại

Tâm hồn tôi rối loạn

Khắp mặt đất chạy rông

Khúc 2
Bước chân trượt trên đá sỏi
Xuống sườn dốc lòng hồ

Nơi ấy nước nằm lõa lồ trên đất

Thèm được tan biến

Đồi nhả ra những viên đá
Và làm đau những đầu lưỡi sóng

Và làm rách toạc mặt nước

Chưa thể hóa sương

Tôi đã đến và mặt đất nơi đây từ chối
Tôi như con tôm bật mình trên nền đồi đá sỏi

Thèm được dấu hơi thở mình trong nước

Mà tinh thần cứ như vật nhọn cứng nhô lên


Khúc 3
Ngọn lửa nhú lên, hé mắt nhìn
Bốn phía thế gian ập vào nó

Không một tiếng kêu thét

Tắt phụt

Mầu tro.

Viết liền văn xuôi
Ba khúc niệm
Khúc 1:
Ngài ở trong lý ức tôi, nhưng tôi không sao nhớ nỗi mặt Ngài. Tôi nhận thấy đâu đó quanh tôi, Ngài đang tồn tại. Tâm hồn tôi rối loạn, khắp mặt đất chạy rông!
Khúc 2:
Bước chân trượt trên đá sỏi, xuống dốc lòng hồ. Nơi ấy nước nằm loã lồ trên đất. Thèm được tan biến. Đồi nhả ra những viên đá và làm đau những đầu lưỡi sóng, và làm rách toạc mặt nước chưa thể hoá sương. Tôi đã đến và mặt đất nơi đây từ chối. Tôi như con tôm bật mình trên nền đá sỏi. Thèm được dấu hơi thở mình trong nước, mà tinh thần cứ như vật nhọn cứng nhô lên!
 
Khúc 3:
Ngọn lửa nhú lên hé mắt nhìn, bốn phía thế gian ập vào nó. Không một tiếng kêu thét, tắt phụt. Màu tro.
 Nhận xét:
 Đọc mới thấy vô nghĩa, rối rắm, văn xuôi không ra văn xuôi, vè không ra vè, lởm ca, lởm cởm như một kẻ tâm thần nặng, bệnh hoạn...
 
“Dịch” bài Vô Lối này:
BA KHÚC KHẤN
 
Khúc 1
 
Tâm tôi không nhớ nỗi Ngài.
Quanh tôi Ngài vẫn lai rai tại tồn !
Ôi, Tôi rối loạn tâm hồn
Khắp mặt đất rộng chân dồn chạy rông!
 
Khúc 2
 
Chân trượt trên đá sỏi
Xuống bờ dốc lòng hồ
Nước nằm đất loã lồ
Rất thèm được tan biến!
 
Đồi nhả viên đá hiếm
Làm đầu lưỡi sóng đau.
Và làm toạc mặt nước
Chưa hoá sương được đâu!
 
Tôi đến, đất từ chối.
Như con tôm trên sỏi
Thèm thở trong nước lành.
Nhọn cứng một tinh thần!
 
Khúc 3
 
Ngọn lửa nhú lên, hé mắt nhìn
Thế gian bốn phía ốp như đinh
Không nghe một tiếng kêu, tiếng thét
Tắt phụt màu tro, thật khiếp kinh!
 
Đỗ Hoàng dịch  Hà Nội ngày 8 -1 - 1012
 
 
VĂN CHƯƠNG GIẬT LÙI
 
   Thời Lê Cảnh Hưng , Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm khoảng 1740 -1742, đên nay cũng đã gần 300 năm. Buổi ấy Hán học đang bao trùm từ trong triều ra ngoài quận mà các dịch giả Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích đã Việt hoá một cách tài tình. Đến nay gần 300 năm sau có người lại Hán hoá trở lại thơ ca của mình. Điển hình là tập Hoan ca của Đỗ Doãn Phương vừa được Hội Nhà văn Việt Nam trảo giải năm 2011
 
Đọc xem:
“Vân tùng Giới Tử lạp Lâu Lan,
Tiểu hướng Man khê đàm Mã Viện
Quân phi trang phục hồng như hà
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết
 
( Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,
Dẹp Man Khê nhờ sự Phục Ba
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in)
 
Hay:
“Trương phu thiên lý chí mã cách,
Thái Sơn nhất trịch kinh hồng mao”
 
(Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhự tựa hồng mao)
Hay
“Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt,
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn”
 
(Lòng thiếp tựa bòng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên Sơn)
 
Đỗ Hoàng

  Hoan ca làm hỏng tiếng Việt và thơ Việt
Tập Hoan ca  của Đỗ Doãn Phương  nên cho điểm Zê rô (Dưới điểm 1) về tựa đề
Đã làm văn chương  trong cõi
Việt thì dù tiếng Anh, tiếng Em giỏi đến mức nào thì cũng  phải biết Hán Việt, phải học Hán Việt, chưa nói học tiếng Trung Quốc mới mong làm văn chương. Đỗ Doãn Phương chắc giỏi tiếng Tàu nên văn chương toàn Tàu Ô.( Hoan Ca)
   Vì Đỗ Doãn Phương còn trẻ, người trẻ thì tôi không dám động đến. Nhưng vừa rồi Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng cho tập thơ Hoan Ca nên buộc tôi phải lên tiếng. Tôi có lướt qua nội dung, nó cũng là một loại vô lối, tất nhiên hơn các cây
Vô lối khác một chút, rỗi rãi tôi sẽ dịch một vài bài vô lối của Đỗ Doãn Phương.
  Quay lại tựa đề. Tôi nhớ hơn 25 năm trước, nhà văn Lê Minh đến nói chuyện với anh chị em học viên Nguyễn Du khoá 3. Nhà văn kể rằng: “Tôi có tập truyện , Biên tập viên Nhà xuất bản nọ bào tôi nên đổi tên là “ Đảo cô đơn” thì hay hơn. Tôi nói: “ Tiếng Việt có thiếu đâu mà lấy tiếng Tàu. Tôi vẫn để là “Đảo một mình”. Tựa đề Hoan Ca của Đỗ Doãn PHương 100% tiếng Hán. Hoan  có 6 chữ. Hoan. Hoan có bộ thảo, hai chữ khẩu, bộ nhân đứng  hợp hơn có 2 nghĩa 1- Vui mừng, 2- trái gái yêu nhau cũng gọi là hoan, bên gái gọi bên trai là hoan, cũng như tiếng chàng của ta.
Ca: cũng có 6 chữ. Ca ở đây có 2 chữ khẩu 1- ngợi hát như ca thi (ngâm thơ) 2- Khúc  hát hợp với âm gọi là ca nhạc 3- Bài ca
Hoan ca của Đỗ Doãn Phương – Đúng nghĩa là Bài ca vui ( Vì trong tập còn có bi ca nữa)
  Thế mà có một trang mạng đánh giá: Đỗ Doàn Phương người “quét sạch” thơ trẻ hiện đại. Nhà thơ Đỗ Doãn Phương với những nổ lực kỳ lạ” làm trong sáng tiếng Việt” trong những ngọn triều nhục cảm. Như thế thì có mỉa mai cho cõi Việt không!
  Nên tập Hoan Ca của Đỗ Doãn Phương không cho in vì nó làm hỏng tiếng Việt và thơ Việt
Hà nội ngày 5 thang 1 năm 2012
Nhà thơ Đỗ Hoàng
 

Phạm Tiến Duật - "Nhà cười học"

 Phạm Tiến Duật - "Nhà cười học"

    Nhà thơ Phạm Tiến Duật làm Tổng biên tạp Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam độ một hai năm rồi về hưu.
  Trong thơi gian ngắn ngủi đó, anh có mời tướng Đồng Sỹ Nguyên đến thăm Tạp chí một đôi lần vừa tri ân cấp trên cũ, vừa có chút thể hiện chức vị của mình.
  Hai người kể nhiều kỷ niệm cho anh em cơ quan nghe. Có chi tiết tướng Đồng Sỹ Nguyên kể mà tôi thấy khá ấn tượng.
  Ông Nguyên nói: - Một lần tôi đi công tác xuống đơn vị, bất ngờ đọc được bài thơ " Tiểu đội xe không kinh" in trên báo Trường Sơn - báo của Đoàn 559. Tôi phấn khởi quá reo to: " Tuyệt thật! Đây là điều có thể động viên người lính toàn Quân khu xông lên.  (Đoàn 559 không gọi là quân khu nhưng tổ chức biên chế của nó trong thời chiến như một Quân khu, có khi lương thực đạn dược , vũ khí trang bị còn hơn một Quân khu thời bình. Tuy là cấp Quân khu nhưng Đồng Sỹ Nguyên chỉ đeo quân hàm Đại tá. Sau này hòa bình ông mới được vượt cấp lên Trung tướng).
"Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng..."
Đồng Sỹ Nguyên nói với trợ lý: - Điều chiến sỹ này về làm bảo Trường Sơn.
Lời nói của tướng quân có sức nặng nghìn cân.  Chỉ một tíc tắc, Phạm Tiến Duật đã lên Đoàn bộ thành nhà báo chiến trường, ra vào gặp tướng soái, truyền tụng là tướng Nguyên đãi ngộ nhà thơ trẻ mang quân hàm thượng sỹ mà hưởng tiêu chuẩn như một thượng tá! Khó có người lính nào mơ được.
 Ông Nguyên tiếp: - Phải có tiếng nói tích cực như vậy mới đánh thắng Mỹ, chứ nơi chiến trường là nơi chết chóc, không có lời động viên, người ta bỏ về hết.
                                       
 Và từ đấy thơ Phạm Tiến Duật đầy ắp tiếng cười lạc quan cổ vũ bộ đội, Thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ:
..." Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi Bụi trắng tóc như người già
Không cần nghỉ, lái trăm cây số nữa.
Nhìn nhau mặt lấm cười ha, ha!
(Tiểu đội xe không kính)
 
"Con trai đội nón bao giờ,
Vì mưa nên phải đi nhờ nobns em
Bây lâu mũ sắt đội quen
Buồn cười cái nón tòn ten trên đầu..."
(Cái chao đèn)
 
"Nghe em hát mà anh buồn cười!
Nhịp với phát xem chừng sai cả
Mồ hôi em ướt dầm trên má
Anh với mọi người nhìn nhau khen hay!"
( Nghe em hát)
 
Cây bồng bênh cười vui suốt ngày
Thân thẳng cây chò, cành ngang cây chỉ"
( Những vùng rừng không dân)
 
"Cả sư đoàn bộ binh
Đi dài trong rừng khộp
Anh nhìn mà đột ngột
Rừng già khi thu sang...
Cây khộp tựa cây bàng
Khẳng khiu mùa rụng lá
Quân đi đông đông quá
Những sư đoàn nối nhau
Chưa gặp lần nào đâu
Mà như quen tất cả
Những dáng đi hối hả
Nước da hông, da nâu...
 
 
Quê đâu, quê đâu?
Đứt nối tiếng liền nhau
Ba lô họ nặng quá
Anh nhấc trĩu tay mình
Mà tiếng cười nâng bỗng
Cả rừng và cả anh!
( Những vùng rừng không dân)
 Và khi đùa anh, chúng tôi gọi anh Phạm Tiến Duật là "Nhà cười học".
  Thời ấy còn có nhiều "Nhà cười học", "Nhà hát hộc", "Nhà ca học", Nhà hót học" để đối lại với bây giờ khi hòa bình yên vui thì có rất nhiều "Nhà khóc học"
Huế ngày 10- 4 -2012

SÓNG VÀ KHOẢNG LẶNG CỦA TỪ QUỐC HOÀI - GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM NĂM 2010THUA VĂN HỌC SÍNH LỚP SÁU

 SÓNG VÀ KHOẢNG LẶNG CỦA TỪ QUỐC HOÀI - GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM NĂM 2010THUA VĂN HỌC SÍNH LỚP SÁU


 
Dịch Vô Lối Từ Quốc Hoài
Nguyên bản:
 
NGƯỜI LÀM VƯỜN
 
Trong khu vườn hoàng hôn
tiếng chim vùi bóng lá
người làm vườn ngả chiếc nón nhuốm sương
vục ngọn gió mát rượi
 
mùa xuân theo chân hoa trái
đã về nhà người
bây giờ xum xuê dưới bầu trời
là chiếc tổ xanh thắm mùa hạ
chiếc tổ đan dệt thời gian
long lanh nắng
long lanh mưa
mồ hôi nhỏ giọt long lanh
 
cuộc đời sinh nở
trong khu vườn lao xao mắt lá
 
người  làm vườn
cài lên ngày mới nụ cười lắm tấm nắng
 
Viết liền văn xuôi:
 
NGƯỜI LÀM VƯỜN
 
        Trong khu vườn hoàng hôn, tiếng chim vùi bóng lá. Người làm vườn ngả chiếc nón nhuốm sương, vục ngọn gió mát rượi! Mùa xuân theo chân hoa trái đã về nhà người. Bây giờ xum xuê dưới bầu trời là chiếc tổ xanh thắm mùa hạ. Chiếc tổ đan dệt thời gian, long lanh nắng, long lanh mưa, mồ hôi nhỏ giọt long lanh.
   Cuộc đời sinh nở trong khu vườn lao xao mắt lá. Người  làm vườn cài lên ngày mới nụ cười lắm tấm nắng!
 
 Bài văn học sinh lớp sáu:
Khu vườn nhà em
 
Nhà em khác với những nhà của các bạn khác. Ngôi nhà của em có một khu vườn khá rộng.
Hôm nay là một buổi sáng đẹp trời. Màn sương đêm dần dần tan biến. Mặt trời mọc, những tia nắng dần dần sáng lên chiếu xuống khu vườn của nhà em. Vườn nhà, trồng rất nhiều cây cảnh như: cau, lộc vừng,... và một số loài hoa mà mẹ em sưu tập: hoa lan, xương rồng, quỳnh Nhật, hồng tú cầu. Vào mùa này những giò lan rừng mẹ trồng nở rộ, tỏa hương thơm ngát, chúng khoe sắc thắm dưới ánh nắng chói chang làm khu vườn đẹp hơn. Em còn nhớ, năm vừa rồi cây lộc vừng nở biết bao nhiêu là hoa. Thật ngộ quá, hoa lộc vừng hơi giống với hoa liễu nhưng nhìn hoa lộc vừng đẹp hơn.
Vào mùa hoa nở, bao nhiêu ong, bướm, chim chóc đến hót véo von, chúng đua nhau lấy mật, thụ phấn làm khu vườn càng thêm đẹp. Mỗi khi rảnh rỗi em đều ra vườn ngắm hoa. Các bác hàng xóm nhìn khu vườn đều tấm tắc, chăm sóc thế nào mà đẹp vậy, lá cây thì xanh mướt, hoa thì thắm tươi.
Vào mùa mưa, những cây cau với những cành lá vươn dài như một hàng rào chắn gió, cản mưa. Còn vào mùa hè khu vườn giúp ngôi nhà của em mát mẻ không nắng nóng. Từ xa nhìn lại ngôi nhà nhỏ nhắn xinh xinh của gia đình em thật dễ thương. Nếu có dịp đến nhà em thì mọi người có thể nhận ra rất dễ dàng vì nhà em có nhiều cây và có hàng cau cao vút.
Ngày này qua ngày khác, khu vườn vẫn luôn xanh tươi. Em sẽ chăm sóc và bảo vệ khu vườn, để cây cối luôn tươi tốt đem lại niềm vui cho gia đình em. Mãi mãi em sẽ ghi nhớ hình ảnh khu vườn.
                               Ngô Mai Ca
(Lớp 64 - Trường THCS Phạm Hồng Thái - TP. Pleiku
 
Viết xuống dòng kiểu Vô lối Từ Quốc Hoài
Khu vườn nhà em
Nhà em khác với những nhà của các bạn khác.
Ngôi nhà của em có một khu vườn khá rộng.
Hôm nay là một buổi sáng đẹp trời.
Màn sương đêm dần dần tan biến.
Mặt trời mọc, những tia nắng dần dần sáng lên chiếu xuống khu vườn của nhà em.
Vườn nhà, trồng rất nhiều cây cảnh
như: cau, lộc vừng,... và một số loài hoa
mà mẹ em sưu tập: hoa lan, xương rồng, quỳnh Nhật, hồng tú cầu.
Vào mùa này những giò lan rừng mẹ trồng nở rộ,
tỏa hương thơm ngát, chúng khoe sắc thắm dưới ánh nắng chói chang làm khu vườn đẹp hơn.
Em còn nhớ, năm vừa rồi cây lộc vừng nở biết bao nhiêu là hoa.
Thật ngộ quá, hoa lộc vừng hơi giống với hoa liễu
nhưng nhìn hoa lộc vừng đẹp hơn.
Vào mùa hoa nở,
bao nhiêu ong, bướm, chim chóc đến hót véo von,
chúng đua nhau lấy mật, thụ phấn làm khu vườn càng thêm đẹp.
Mỗi khi rảnh rỗi em đều ra vườn ngắm hoa.
Các bác hàng xóm nhìn khu vườn đều tấm tắc,
chăm sóc thế nào mà đẹp vậy, lá cây thì xanh mướt,
hoa thì thắm tươi.
Vào mùa mưa, những cây cau với những cành lá vươn dài như một hàng rào chắn gió, cản mưa.
Còn vào mùa hè
khu vườn giúp ngôi nhà của em mát mẻ không nắng nóng.
Từ xa nhìn lại
ngôi nhà nhỏ nhắn xinh xinh của gia đình em thật dễ thương.
Nếu có dịp đến nhà em thì mọi người có thể nhận ra
rất dễ dàng vì nhà em có nhiều cây và có hàng cau cao vút.
Ngày này qua ngày khác,
khu vườn vẫn luôn xanh tươi.
Em sẽ chăm sóc và bảo vệ khu vườn,
để cây cối luôn tươi tốt đem lại niềm vui cho gia đình em.
Mãi mãi em sẽ ghi nhớ
hình ảnh khu vườn.
                                                  Ngô Mai Ca
(Lớp 64 - Trường THCS Phạm Hồng Thái - TP. Pleiku
 
 
Nhận xét bài Vô lối  NGƯỜI LÀM VƯỜN
của Từ Quốc Hoài:
 
Đây là bài vô lối nhạt nhẽo, đơn điệu không ra chuột, không ra dơi, tình cảm nhẹ tênh, thua một em học sinh lớp 6 tả cảnh vườn em! Bạn thử đọc xem!
 
“Dịch” ra thơ Việt
Cách một:
 
NGƯỜI LÀM VƯỜN
 
hoàng hôn lãng đãng trong vườn
tiếng chim vùi bóng lá buông dịu dàng
người làm vườn thoáng mơ màng
nhuốm sương ngã chiếc nón tàn mộng mơ
vục vào ngọn gió non tơ
mùa xuân theo bước chân chờ hoa tươi.
 
ơ hay đã về nhà người
xum xuê dưới một bầu trời từ nay.
chiếc tổ xanh mùa hạ này
chiếc tổ đan dệt cho đầy thời gian
long lanh mưa nắng ngập tràn
mồ hôi như ngọc, như vàng long lanh.
 
cuộc đời sinh nở mong manh
trong vườn mắt lá cao xanh thế mà
người làm vườn mới hiểu ra
cài lên ngày mới nụ hoa nắng đầy!
 
Hà Nội ngày 9 – 3 – 2012
Đ - H
 
Cách 2:
 
NGƯỜI LÀM VƯỜN
 
trong khu vườn hoàng hôn,
tiếng chim vùi bóng lá
người làm vườn nón ngã,
phơi một màu phong sương!
vực gió mát tâm hồn!
 
xuân theo chân hoa trái
về nhà người sớm hôm
sum suê dưới trời lạ
chiếc tổ xanh hạ ươm!
chiếc tổ dệt thời gian
êm đềm long lanh nắng,
long lanh mưa dịu dàng.
mồ hôi long lanh lan!
 
với cuộc đời sinh nở
lao xao mắt lá vườn
người làm vườn khốn khổ
cài lên ngày nụ cười
lấm tấm nắng vàng rơi!
 
Hà Nội
Đỗ Hoàng dịch ngày 10 – 3 -2012