Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

Thục đạo nan - Dịch thơ

 

Thục đạo nan - Dịch thơ

Thứ tư - 14/07/2021 13:41
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên
Tàm Tùng cập Ngư Phù
Khai quốc hà mang nhiên
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế
Bất dữ Tần tái thông nhân yên
Tây đương Thái Bạch hữu điểu đạo
Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên
Tu Xuyen tải xuống
Tu Xuyen tải xuống



 蜀道難    
 李白

 蜀道難  

噫吁戲!
危乎高哉!
蜀道之難難於上青天!
蠶叢及魚鳧,
開國何茫然。
爾來四萬八千歲,
不與秦塞通人煙。
西當太白有鳥道,
可以橫絕峨眉巔。
地崩山摧壯士死,
然後天梯石棧方鉤連。
上有六龍回日之高標,
下有衝波逆折之回川。
黃鶴之飛尚不得過,
猿猱欲度愁攀援。
青泥何盤盤,
百步九折縈巖巒。
捫參歷井仰脅息,
以手撫膺坐長歎。
問君西遊何時還?
畏途巉巖不可攀。
但見悲鳥號古木,
雄飛雌從繞林間。
又聞子規啼夜月,愁空山,
蜀道之難難於上青天,
使人聽此凋朱顏。
連峯去天不盈尺,
枯松倒掛倚絕壁。
飛湍瀑流爭喧豗,
砅厓轉石萬壑雷。
其險也如此,
嗟爾遠道之人,
胡為乎來哉!
劍閣崢嶸而崔嵬,
一夫當關,
萬夫莫開。
所守或匪親,
化為狼與豺。
朝避猛虎,
夕避長蛇。
磨牙吮血,
殺人如麻。
錦城雖云樂,
不如早還家。
蜀道之難難於上青天,
側身西望長咨嗟。

 LÝ Bạch
Thục đạo nan
Y hu hy
Nguy hồ cao tai
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên

Tàm Tùng cập Ngư Phù
Khai quốc hà mang nhiên
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế
Bất dữ 
Tần tái thông nhân yên
Tây đương 
Thái Bạch hữu điểu đạo
Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên
Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử
Nhiên hậu thiên thê thạch sạn phương câu liên
Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu
Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên
Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá
Viên nhứu dục độ sầu phan viên

Thanh Nê hà bàn bàn
Bách bộ cửu chiết oanh nham loan
Môn 
Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức
Dĩ thủ phủ ưng toạ trường thán
Vấn quân tây du hà thời hoàn
Uý đồ sàm nham bất khả phan
Đãn kiến bi điểu hào cổ mộc
Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian
Hữu văn 
tử quy đề dạ nguyệt, sầu không san.
Thục đạo chi nan nan ư thướng thanh thiên
Sử nhân thính thử điêu chu nhan
Liên phong khứ thiên bất doanh xích
Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích
Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi
Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi
Kỳ hiểm dã nhược thử
Ta nhĩ viễn đạo chi nhân
Hồ vi hồ lai tai

Kiếm Các tranh vanh nhi thôi ngôi
Nhất phu đang quan
Vạn phu mạc khai
Sở thủ hoặc phi thân
Hoá vi lang dữ sài
Triều tị mãnh hổ
Tịch tị trường xà
Ma nha doãn huyết
Sát nhân như ma
Cẩm thành tuy vân lạc
Bất như tảo hoàn gia
Thục đạo chi nan nan ư hướng thanh thiên
Trắc thân tây vọng trường tư ta

 


Đỗ Hoàng dịch nghĩa :
Đường nước Thục khó đi
Ôi,
Chao ôi!
Nguy hiểm và cao thay!
Đường nước Thục khó đi, khó hơn đường lên trời xanh.
Vua Tàm Tùng đến vua Ngư Phù
Mở nước từ chốn nào, xa xôi mờ mịt!
Từ đó tính đến nay, tính đã bốn vạn tám nghìn năm,
Mới thông suốt với chỗ có khói người ở ải Tần.
Phía tây là núi Thái Bạch chắn nhưng còn có đường chim bay,
Nó thể vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi.
Đất lở, núi đá sập, tráng sĩ chết,
Rồi sau đó mới có thang trời, đường đá móc nối liền nhau.
Phía trên có ngọn cao sáu rồng chầu lượn quanh mặt trời.
Phía dưới có dòng sông uốn khúc sóng xô rẽ ngược.
Hạc vàng  không thể nào bay qua được;
Vượn khỉ muốn vượt qua, cũng buồn khi vin tới, leo trèo.
Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao!
Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt vòng quanh núi non hiểm trở.
Đứng trên cao, tưởng chừng như sờ được sao Sâm, lướt qua mò sao Tỉnh, ngẩng trông nín thở,
Đưa tay vỗ bụng, ngồi than thở hoài.
Hỏi bạn đi chơi phía Tây, bao giờ trở lại?
Đường đi cheo leo, nguy hiểm, không với tới được.
Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ,
Con trống bay theo con mái, lượn quanh trong rừng.
Lại chẳng nghe thấy tiếng chim tứ quí kêu dưới bóng trăng đêm, buồn trong núi vắng quạnh quẻ.
Đường nước Thục khó đi, khó hơn lên đường lên trời xanh.
Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó, phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung.
Các ngọn núi liền nhau, cách trời không đầy một thước.
Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất.
Nước bay, thác chảy đua tiếng ào ào.
Đập vào sườn núi, rung độngđá, muôn khe suối vang ầm như sấm động.
Đường Thục hiểm trở là như thế!
Thương thay cho các bạn, những người đi đường xa,
Tại sao,lý do nào lại  đến nơi đây?
Núi Kiếm Các tranh vanh, cheo leo, chót vót!
Một người  giữ ải,
Muôn người không quai
Người giữ ải nếu không phải người thân,
Sẽ biến thành  loài lang sói.
Sáng phải tránh cọp dữ,
Tối phải tránh trăn dài;
Toàn những loại mài nanh, hút máu,
Giết người như chặt cành  gai.
Thành Cẩm  tuy vui vẻ,
Không bằng sớm trở về nhà.
Đường  nước Thục khó đi, khó hơn đường lên trời xanh.
Nghiêng mình trông sang phía tây, thở vắn, than dài!


(Năm 732)

Thục là tên nước cũ thời Xuân Thu, nay là tỉnh Tứ Xuyên.

-----
Cao điểm chốt 280 - Biên giới Việt Lào 1973
Đ – H
Đỗ Hoàng dịch thơ:
ĐƯỜNG  XỨ THỤC KHÓ ĐI
Ôi, chao ôi!
Nguy hiểm, cao thay!
Đường Thục khó đi, khó hơn đường lên trời xanh.
Vua Tàm Tùng và vua Ngư Phù, mở nước từ bao giờ mông lung mờ mịt!
Tính đến nay đã bốn vạn tám ngàn năm xa tít,
Mới thông suốt với ải Tần liền khói người.
Phía tây núi Thái Bạch có đường chim trời,
Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi chất ngất,
Đất long, núi lở, tráng sĩ mất,
Rồi sau đó thang trời, lối đá mới nối liền.
Trên đỉnh núi có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật luôn luôn ngẩn lên.;
Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả tung bọt nước.
Hạc vàng bay qua còn chẳng được;
Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin vin..
Rặng Thanh Nê quanh co im lìm!
Trăm bước, chín vòng nhấp nhô núi.
Ngẩng trông Sâm Tỉnh, không dám thở ra hơi,
Lấy tay vỗ bụng ngồi ngáp lời.
Hỏi bạn sang tây, bao giờ trở lại ?
Đường hiểm núi cao, khó nhọc lắm thay hảm hại;
Chỉ thấy chim gào bên cổ thụ buồn,
Con trống bay theo con mái rừng cây lượn luồn.
Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối,
Buồn tênh, người vắng bên lưng núi!
Đường Thục khó đi, khó đi hơn đường lên trời xanh;
Khiến người nghe nói héo hon mặt đần!.
Núi liền cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất.
Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng,
Vỗ bờ, tung đá, muôn khe vang.
Hiểm trở là như vậy,
Đường xa, thương cho ai vậy,
Can chi mà lặ lội đến đây ?
Kiếm Các cheo leo cao ngất mây.
Một người giữ ải,
Muôn người khôn lại.
Người giữ ải chẳng phải là người thân,
Biến thành ra sài lang.
Sớm lánh hổ dữ,
Tối tránh trăn dài;
Toàn là loại mài nanh, hút máu,
Giết người như chặt cành da.
Cẩm Thành tuy vui thú,
Đâu bằng sớm về nhà.
Đường Thục khó đi, khó hơn cả đường lên trời xanh;
Nghiêng trông sang tây, mãi thở than dài xót xa!


Cao điểm chốt 280 – Biên gới Việt – Lào
                  Năm 1973.
                        Đ - H
 

 


                                                          Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ

KHÔNG CÓ LOẠI NGƯỜI NÀO THÍCH VÔ LỐI!

Thứ ba - 06/07/2021 07:49
Tôi đã nghe, đã gặp, đã biết nhóm người “máu lạnh” như: đao phủ, cai ngục, án sát, thầy cải, chính trị gia, tình báo…họ yêu thích ca dao, tục ngữ, ca từ âm nhạc của tổ tiên và của nhân loại. Có người còn là nhà thơ nhạc sĩ nữa. Nhà văn thì rất nhiều người rồi! Tất nhiên nhóm người “máu lạnh “ đó hoàn toàn không thích thơ cứt đái “vô lối”
KHÔNG CÓ LOẠI NGƯỜI NÀO THÍCH VÔ LỐI!
KHÔNG CÓ LOẠI NGƯỜI NÀO THÍCH VÔ LỐI!

Đỗ Hoàng

 Tôi đã nghe, đã gặp, đã biết nhóm người “máu lạnh” như: đao phủ, cai ngục, án sát, thầy cải, chính trị gia, tình báo…họ yêu thích ca dao, tục ngữ, ca từ âm nhạc của tổ tiên và của nhân loại. Có người còn là nhà thơ nhạc sĩ nữa. Nhà văn thì rất nhiều người rồi! Tất nhiên nhóm người “máu lạnh “ đó hoàn toàn không thích thơ cứt đái “vô lối”
  Một lần trường Đại học Viết văn Nguyễn Du mời nhà tình báo nổi tiếng Vũ Ngọc Nhạ đến nói chuyện với trường. Anh em học viên phấn khởi lắm! Ông Nhạ người tầm thước, giản phác. Mặc bộ áo quần bộ đội màu có úa,  sắc phục thời trước. Mặt hiền khô! Trông ông như một anh cán bộ loại cán sự 5 bẽn lẽn ngại ngùng trước những kẻ tiếng tăm! Thế mà ông là cố vấn thân cận của Tổng thống tài ba liêm chính, lừng lẫy Ngô Đình Diệm và cả Nguyễn Văn Thiệu!
 Ông đưa con dao dăm dát vàng Tổng thống Thiệu tặng ông và nói rõ hai mảnh vàng ông gở ra bán lúc bao cấp túng thiếu! Ông nói chuyện nhẹ nhàng sâu lắng. hấp dẫn và nhiều điều lạ lẫm. Ông được huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và Huân chương tòa Thanh Va ti căng! Phải viết một quyển sách mới hết chuyện của ông.
   Tôi xin kể lại đoạn ông được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cài vào lòng địch.
  Ông nói : “Ông đang là yếu nhân cấp huyện của tỉnh Thái Bình thì hòa bình năm 1954 lập lại. Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Phạm Văn Đồng gọi ông lên đi theo dân di cư vào Nam cài vào Phủ đầu rồng của Việt Nam Cộng Hòa.
  Qua bao nguy nan, gian khó, ông được Ngô Tổng thống đồng ý đón tiếp. Chờ ngoài phòng khách, ông đi vệ sinh. Vào toalet, ông thở phào nhẹ nhỏm, vừa đái , vừa đọc thơ:
“Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
(醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回)
  Nghĩa là (Đỗ Hoàng dịch nghĩa):
Say khướt nằm ở bãi cát chiên trường, anh chớ cười
Xưa nay đi đánh nhau có người nào trở về đâu. (*)
Đỗ Hoàng dịch thơ:
“Say gục sa trường anh chớ giễu
Xưa nay giết chóc mấy ai về”
 Tôi đố đám Vô lối viết được câu nào để cho đời nhớ và nhất là nhóm người “máu lạnh”!
     Hà Nội ngày 6 tháng 7 năm 2021
     Đ - H
(*)涼州詞其一 Vương Hàn - 王翰
涼州詞其一 
葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

 Lương Châu từ kỳ 1
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

 Đỗ Hoàng dịch nghĩa
Lương Châu Từ  (điệu hát chiến trận xưa)

Rượu ngon bồ đào cùng với chén ngọc lưu ly
Muốn uống nhưng đàn tỳ bà trên lưng ngựa đã giục giã
Say khướt nằm ở bãi cát chiến trường, anh chớ cười
Xưa nay đi đánh nhau có người nào trở về đâu.

Đỗ Hoàng dịch thơ:
Bồ đào rượu quý, chén lưu ly
Trên ngựa tỳ bà đã giục đi
Say gục sa trường anh chớ giễu
Xưa nay giết chóc mấy ai về! (**)

(**)Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu từ là một điệu hát cổ của nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Thương tiến tửu, Quân mã hoàng, Viễn như kỳ, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác.

 

Dịch Vô lối Phan Hoàng

 

Dịch Vô lối Phan Hoàng

Thứ bảy - 10/07/2021 12:31
Ltg: Đám vô lối nói chung là rất dốt nát, không chỉ tiếng Việt mà có ngu si nhiều thứ. Chúng là quái thai của lịch sử dân tộc. Chúng lấy mẹo lừa, trí trá, gian xảo, táng tận lương tâm…thay cho sáng tạo. Chí trong chế độ độc tài toàn trị, đáng trị, công an trị, vô lối trị như Việt Nam chúng mới tác oai, tác quái. Tên Phan Hoàng người Phú Yên ngu độn bậc nhất trong đám này. Tôi dịch bài vô lôi nó ra thơ Việt để bạn đọc tham khảo
Đỗ Hoàng
Dịch Vô lối Phan Hoàng
Dịch Vô lối Phan Hoàng

Ltg: Đám vô lối nói chung là rất dốt nát, không chỉ tiếng Việt mà có ngu si nhiều thứ. Chúng là quái thai của lịch sử dân tộc. Chúng lấy mẹo lừa, trí trá, gian xảo, táng tận lương tâm…thay cho sáng tạo. Chí trong chế độ độc tài toàn trị, đáng trị, công an trị, vô lối trị như Việt Nam chúng mới tác oai, tác quái. Tên Phan Hoàng người Phú Yên ngu độn bậc nhất trong đám này. Tôi dịch bài vô lôi nó ra thơ Việt để bạn đọc tham khảo
Đỗ Hoàng

Phan Hoàng

CHẤT VẤN THÓI QUEN

sáng sáng tôi hay đến ngồi vào chiếc ghế ấy
nhâm nhi ly cà phê cứt chồn
đọc báo
nhìn cô chủ quán nở nụ cười hàm tiếu

chiếc ghế trở thành vật sở hữu của tôi
mùi cà phê cứt chồn trở thành mùi của tôi
những trang báo trở thành chữ nghĩa của tôi
nụ cười cô chủ quán trở thành tín hiệu ngày mới

có sáng
chiếc ghế đã có người đến ngồi
tôi ngơ ngác bỏ đi

có sáng
mùi cà phê không phải cứt chồn
tôi uống qua loa bỏ đi

có sáng
quán không tờ báo
tôi thẫn thờ bỏ đi

có sáng
cô chủ quán miệng im như thóc
tôi buồn buồn bỏ đi

có sáng
quán
cà phê
tôi
bỏ đi bỏ đi bỏ đi…

nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
vì sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt

HỎI KỶ THÓI QUEN

Sáng tôi ngồi mỏi chân trôn
Ly cà phê mùi cứt chồn nhâm nhí
Ngước nhìn chủ quán thường khi
Nụ cười hàm tiếu nở khi rậm người.

Ghế thành sở hữu của tôi
Cà phê cứt cáo là nơi bạn bè.
Chữ tôi trang báo đọc nghe
Nụ cười cô chủ tình quê ngày hồng

Có sáng đặc kín ngoài trong
Tôi ngơ ngác ngác ôm bộ lòng bỏ ra
Có sáng cà phê cứt ca
Uống vờ một chút qua loa ra ngoài.

Có sáng không có để xài
Tôi đại trí thức ra ngoài đương nhiên.
Có sáng cô chủ như tiên
Răng miệng dính liền, tôi phải quay lơ.

Nhiều sáng bỏ đi giả lờ
Hỏi tôi tôi hỏi như thơ mắc cười.
Vì sao hỡi cái con người
Tự lừa mình bởi việc lười thói quen.

Sao không học con sông bên 
Thích nghi dòng đổi băng miền khơi xa!

                                                  Hà Nội ngày 10 – 7 – 2021
                                                                   Đ - H

 

Phạm Thanh bị tù 5 năm 6 tháng

 

Nhà văn Phạm Thành bị tù giam 5 năm 6 tháng

Thứ sáu - 09/07/2021 20:23
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sáng 9-7 đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt bị cáo Phạm Chí Thành (tức Phạm Thành, SN 1952, trú tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; là người lập ra blog "Bà Đầm Xòe") 5 năm 6 tháng tù về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo quy định tại Điều 117, khoản 1 - Bộ luật Hình sự năm 2015.
tải xuống (1)
tải xuống (1)

Blogger "Bà Đầm Xòe" bị phạt 5 năm 6 tháng tù về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước

09-07-2021 - 15:52|Pháp luật

Phạm Chí Thành (tức Phạm Thành, là người lập ra blog "Bà Đầm Xòe") đã bị Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt 5 năm 6 tháng tù về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước.
 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sáng 9-7 đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt bị cáo Phạm Chí Thành (tức Phạm Thành, SN 1952, trú tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; là người lập ra blog "Bà Đầm Xòe") 5 năm 6 tháng tù về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo quy định tại Điều 117, khoản 1 - Bộ luật Hình sự năm 2015.


Blogger Bà Đầm Xòe bị phạt 5 năm 6 tháng tù về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước - Ảnh 1.

Phạm Thành xuyên tạc trên blog Bà Đầm Xòe - Ảnh: Vietnamplus

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, khoảng tháng 2-2012, Phạm Chí Thành nhờ người lập blog "Bà Đầm Xòe" để đăng tải bài viết. Sau đó đến giữa năm 2014, Thành tạo lập trang Facebook cá nhân có tên "Phạm Thành" và tiếp tục đăng tải nhiều bài viết trên các trang mạng. Đến tháng 7-2019, Phạm Chí Thành tập hợp các bài viết đã đăng tải và được sao lưu trong máy tính, rồi biên soạn, chỉnh sửa lại thành tập tin (file) tài liệu riêng. Thành tự thiết kế bìa, đặt tên sách là "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo", ghi thông tin tác giả là "Bà Đầm Xòe Phạm Thành & Các còm si"... sau đó thuê in rồi phát tán quyển sách trên.

Nội dung 21 bài viết trong sách "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo" và bài phỏng vấn Phạm Thành ngày 27-7-2019 chứa đựng nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Phạm Chí Thành còn nhiều lần thực hiện trả lời phỏng vấn các đài, báo ở nước ngoài và một số cá nhân trong nước, được đăng tải trên mạng internet và mạng xã hội Facebook có liên quan đến việc phát tán các quyển sách trên. Ngoài hành vi làm và phát tán tài liệu, thông tin, Thành còn có hành vi tàng trữ 14 quyển cùng 2 bản thảo sách "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo" và những tập tin có liên quan còn lưu trên các máy tính, hộp thư điện tử mà các cơ quan chức năng đã thu giữ được khi khám xét.

Số lượng sách "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo" mà Thành đã phát tán khoảng hơn 220 quyển, gồm 194 quyển chuyển phát qua Bưu điện cho những người ở trong và ngoài nước. Thành nhờ chuyển 4 quyển cho 4 người ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra còn thu giữ được 14 quyển khi khám xét tại nơi ở của Thành. Ngoài ra, Thành còn bán và tặng sách này cho một số cá nhân khác.

Tính từ ngày 13-9-2019 đến ngày 21-5-2020, số tiền Phạm Chí Thành thu được từ việc phát tán sách "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo" là hơn 80 triệu đồng, đa số tiền mua sách được thanh toán vào tài khoản của Thành tại ngân hàng. Trừ các chi phí như thuê in sách, tiền cước gửi sách qua Bưu điện, còn lại Thành được hưởng hơn 18 triệu đồng.


                                                                                                  Theo TTXVN