Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2022

Nguyễn Quang Thiều - Tặc thi - Giặc thơ

 


NGUYỄN QUANG THIỀU

 (詩賊 - 阮光昭)

– Thi tặc – giặc thơ

   Ltg : 詩賊 – Thi tặc – giặc thơ, nguyên chữ Hán, nhà thơ  Đỗ Hoàng có lẽ là người đầu tiên dùng chữ “ Thi tặc” để chỉ đám “thơ vô lối” đang hoành hành trên cõi Việt gần thế kỷ nay!

   vannghecuocsong.com

Như đã viết “Thơ Vô lối” hoành hành trên cõi Việt cũng đã tiến gần một thế kỷ. Thanh Tâm Tuyền được coi là ông  “Tổ” của đám này. Đến bây giờ ước chừng trên dười 20 tên gạo cội: - Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Trần Hùng, Phan Hoàng, Phạm Đương, Inrasara, Nguyễn Khoa Điềm,  Mai Văn Phấn, Thi Hoàng, Vi Thùy Linh, Tuyết Nga, Trúc Thông, Thanh Tùng, Hoàng Vũ Thuật, Phạm Đương,  Đỗ Doãn Phương,  Từ Quốc Hoài, Mã Giang Lân, Nguyễn Phan Quế Mai, Giáng Vân, Đinh Thị Như Thúy, Văn Cầm Hải, Mai Quỳnh Nam, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh…Tôi gọi đám thơ Vô lối này là loại “GiặcThơ”!. Bọn giặc thơ viết không có gì cách tân – mới mẻ cả nội dung lẫn hình thức. Nó còn cũ hơn trái đất. Chúng băng hoại thơ ca Việt bởi kiểu viết vô học, vô văn hóa, dâm dật bẩn thỉu, gian manh,  trí trá, tham quyền, tham chức, táng tận lương tâm…

 Trong bài vịnh “Giặc Thơ” tôi có viết:

Vô lối một bầy viết ất ơ

Ngu si đần độn chúa dâm dơ”…

  Nói thế chưa hết, đám này còn nhiều đặc điểm nữa: táng tận lương tâm,gian manh, trí trá, xỏ lá ba que, nịnh bợ , xu thời, quỵ lụy, hám tiền, hám bạc, hám chức quyền, gái gú, hiếp dâm, tứ đốm tam khoanh….

  Chúng viết thơ không ra thơ, văn không ra văn, một thứ quỉ không cớ đầu, không có trái tim!

NGUYỄN QUANG THIỀU VIẾT RẤT VÔ HỌC,  VÔ VĂN HÓA, DÂM DẬT BẨN THỈU, SÁO, SẾN,  HÔ KHẨU HIỆU…(tiếp theo kỳ trước)

   Đỗ Hoàng

   Bọn thi tặc – giặc thơ không có trái tim Thi sĩ ! Tôi đã có nhiều chuyên luận phê bình « thơ Vô lối » và dịch hàng chục bài vô lối của  Nguyễn Quang Thiều ra thơ Việt, nay ngắn gọn chỉ những chỗ Thiều viết rất vô học, vô văn hóa, dâm dật bẩn thỉu !

  Thiều học phổ thông rất lổ mổ nên toán pháp, suy luận, lô gic học , văn luận rất gà mờ !

  Ngay mới lên cấp 2, trung học cơ sở các em học sinh đã học  về toán : phân số , giản ước phân số ; về văn , viêt trong sáng câu văn.

TOAN :

Tìm phân số chỉ một nửa ?

Các em sẽ tìm rất nhiều phân số chỉ một nửa. ½,3/6,4/8, 250/500, 400/800…Nhưng đã học giản ước phân sơ, các em phải  đưa về phân số tối giản. Vậy ½ là đáp án cuối cùng. Điều này rất thuận lợi cho việc giải các phép tính về phân số.

VĂN :

Làm trong sáng câu văn, bỏ chữ thừa thì, là, và, mà ; chữ lặp lại….Bác Hổ thì, là, và, mà nói :  « Không có gì quý hơn độc lập tự do ».Bỏ thì, là, và, mà , chỉ viết : Bác Hồ nói : « Không có gì quý hơn độc lập tự do ».

 Câu của Nguyễn Quang Thiều – Thi tặc : « Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy »

Chỉ cần viết : « Nửa đòi tôi thấy là đủ ». Bỏ được 10 chữ thừa !

 Vô học đến thế là cùng !

Mấy câu : « Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy

Những người đàn bà xuống gánh nước sông

( Những người đàn bà gánh nước sông)

 Vừa vô học, vô văn hóa, thất đức !

Không ai tả thực cái xấu xa của cô, bà, mẹ ,dì…từng chi tiết cụ thể như thế ! Đúng là giặc thơ !

  Đáng lên án là bài  « Những người đàn bà gánh nước sông » được tuyển chọn 100 bài thơ hay ( !) thế kỷ XX. Kẻ tuyển chọn, người in, lăng bị tùng xẻo, càu đầu trảm không oan chút nào !

 Bài « Bài hát về cố hương » cũng một bài vớ vẩn :

« Kiếp này tôi là người

Kiếp sau phải là vật

Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi./. »

(Bài hát về cố hương – Sự mất ngủ của lửa)…

  Không có ai được làm kiếp người rôi kiếp kiếp lại mơ làm kiếp vật ! Chỉ kẻ điên rồ mới ước làm như thế.  Rồi lại còn : « Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ . Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi./. ». Aragong người Pháp, mà người Pháp họ rất yêu súc vật, nhất là cho con. Con đẻ họ để đi dưới đát, chứ chó thì họ bế trên tay. Aragong trong tình yêu với Enxa ước minh thành con chó nhỏ để người yêu bồng bế trên tay là ước muốn đúng  và chân thành. Còn cái ước thành chó của Nguyễn Quang Thiều là cái ước chó má. Cái ước đã chó má  rồi cái định nghĩa “Nỗi buồn -  báu vật cố hương tôi” càng chó má hơn! Báu vật thường là vật thể, hiếm, quý như vàng, ngọc….Nếu nhiều quá, mãn tải như không khí dù ngừng thở một phút là chết cũng không ai gọi báu vật!

  Nỗi buồn cố hương hay nỗi buồn kiếp người nhiều mãn tải ai lại gọi báu vật? Viết, định nghĩa như vậy rất vô học, vô văn hóa.

 Nguyễn Quang Thiều luôn viết dâm loạn, vô văn hóa và bẩn hơn nhà xí  như vậy:

… « Và vẫn nhìn thấy

Một người đàn bà

Tắm trong một toilet không có rèm che

Kỳ cọ như tuốt hết da thịt mình

Và vẫn nhìn thấy

Cuộc làm tình ban ngày

Của những kẻ thất nghiệp

Trong chính công sở của họ…”

(Một bài thơ viết ở Hà Nội)

 

Viết lúc 10 giờ 13 phút

 

H ngủ muộn. 10h13 phút chưa dậy.

Những sự sống trôi qua chiếc giường.

Những cái chết trôi qua chiếc giường.

Và H nhìn thấy trong giấc ngủ

Một tấm thân đàn ông nóng rừng rực

Trôi qua chiếc giường và dừng lại

ở một khoảng trên đầu

 

lúc 10h13 một người đàn bà khác

khoả thân trong một chiếc giường

đặt ở giữa thành phố

Bẩn thỉu, vô học, vô văn hóa, mất vệ sinh:

… “Một đêm mẹ đi tiểu 5 lần. Mẹ kêu đau quá”

(Lịch sử tấm thảm Thổ Nhĩ Kì)

(Nguyễn Quang Thiều)

 

*

 

  Nguyễn Quang Thiều và đám thơ “Vô lối” không đem đến một hình thức, nội dung gì mới mẻ cho văn chương nước nhà.  Chúng chỉ tàn phá thi ca nghìn năm thiêng liêng của tổ tiên bằng một kiểu viết vô học, vô văn hóa, dâm dật bẩn thỉu, kênh kiệu, gian manh, trí trá, lươn lẹo, ném lựu đạn…đành lừa người đọc… Chúng đúng là một loại thi tặc – giặc thơ!

 

                                   Hà Nội tháng 7/ 2022

                                              Đ – H

 

tìm hiểu Đường thi

 


Hiểu qua thơ Đường luật

Đỗ Hoàng

 Ngay thế hệ tôi sinh sau năm 1954 hòa bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam, chẳng ai dạy thơ Đường luật và làm thơ Đường luật!

  Tôi làm thơ Đường luật là học theo tiền nhân để rèn chữ, rèn ý khi làm thơ tự do

  Sau này nghe chuyên gia tiếng Việt Ni cu tin Nga nói: “ Mọi nền thơ ca sẽ tàn đi, chỉ còn thơ Đường, tôi càng kinh ngạc, kính trọng Đường thi!

 

*

 Khi dạy thơ Đường luật tôi chỉ dặn học viên:

A, Về tho thất ngôn bát cú (bài thơ Đường luật có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ) nhớ 2 bài:

   a, Bài thứ nhất chữ thứ 2 câu 1 vần trắc

Ví dụ bài thơ Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

(Bước xuống Đèo Ngang bóng xế tà – chữ xuống, thì chữ thứ 2 câu 8 cũng phải vần trắc “Một mảnh tình riêng ta với ta)

   b, Bài thứ 2 chữ thứ 2 vần bằng:

   Ví dụ bài Thu điếu – Nguyễn Khuyến

(Ao thu lạnh lẽo nước trong veo – chữ thu thì chữ thứ 2 câu 8 cũng phải vần bằng - Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo)

  Và nhớ cho vần trắc hay vần bằng thì cặp câu 3&4; 5&6 phải đối (ý, lời, danh từ, động từ, từ láy…)

Ví dụ - Lom khom dưới núi tiều vài chú

          Lác đác bên sông rợ mấy nhà  (3&4)

           Nhớ nước đau lòng con uốc quốc

           Thương nhà mói miệng cái gia gia (5&6)

-         Sóng biếc đưa làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước ngõ khẻ bay vèo (3&4)

ắTrời thu lơ lững tầng xanh ngát

 Ngõ trúc quanh co khách vắng teo ,(5&6)

B Tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú : Nhớ “Nhất tam ngũ bất luận

                                                      Nhị tứ lục phân minh”

(Trong mỗi câu thơ Đường luật : Chữ thứ nhât, thứ ba, thứ năm không kể vần bằng trắc ; nhưng chữ thứ 2, thứ 4, thứ 6 phải trắc, bằng theo bài nghiêm chỉj!nh.

Tạm như thế, các bạn bước hiểu Luật Đường thi , thưởng thức và có thế sáng tác đươc

(còn nữa)

                                Đ - H

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2022

Phan Hoàng phải theo đít trâu suốt đời

 


PHAN HOÀNG PHẢI THEO ĐÍT TRÂU SUỐT ĐỜI

Đỗ Hoàng 

 Ltg: Gần thế kỷ qua, bọn thơ Vô lối hoành hành tác oai, tác quái trên cõi Việt. Chúng là loại thi tặc – giặc thơ – phá hoại thi ca tổ tiên. Từ thằng thủy tổ Thanh Tâm Tuyền , phó thủy tổ Lê Văn Ngăn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Hoàng, Trần Hùng, In ra sa ra, Mai Quỳnh Nam, Mã Giang Lân, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Vũ Thuật, Mai Văn Phấn, Tuyết Nga, Văn Cầm Hải, Trúc Thông, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư,  Phan Thị Vàng Anh,  Từ Quốc Hoài, Đinh Thị Như Thúy, Đỗ Doãn Phương, Thi Hoàng, Hoàng Hưng…  đến đám hậu sinh, đám chíp hôi … tác phẩm của chúng cả nội dung và hình thức không đem đến điều gì mới mẻ cho văn chương mà lại phá hoại văn chương Việt! Phan Hoàng là một tên như thế: giả dối, sáo, sến, viết về mẹ mà cũng đóng kịch, nhạt nhẽo, gượng gạo…đầy chất Tàu ô!

Nguyên bản:

Phan Hoàng

TIẾNG THỞ MẸ NHỌC NHẰN

(Văn nghệ số28 /9/7/2022)

Thẫn thờ đêm tiếng thở mẹ nhọc nhằn

tiếng cánh cò rã rời trăm năm âm thầm mưa nắng

tiếng kết tủa buồn vui đời sông chạm biển về nguồn

 

Quẳng gánh bôn ba phiêu bạt hư danh

gió bay về ngôi nhà ký ức tuổi thơ độc thoại gió xuân ký ức

như con bò đi hoang trở về hít thở mùi chuồng quen thuộc

cúi đầu tạ lỗi nghĩa trọng tình thâm

đêm đêm canh giữ tiếng thở mẹ nhọc nhằn

lòng nặng trĩu ngọn núi tuyết đông suy tư nhức nhói

 

Ngoài vườn côn trùng mê mải reo ca

đón chào những  mầm non cựa mình vươn từ lòng đất

gió rón rén ép mình hơi ấm se thắt sinh thành

nước mắt lặng lẽ cứa vào lòng đêm

rơi theo tiếng thở mẹ nhọc nhằn dự báo

 

Ước gì ngọn gió ta như mầm non mới cựa mình trong lòng đất

  cơ thể mẹ là ngôi vườn thanh xuân ấm áp tiếng hoang sơ.

 

BÌNH GIẢNG:

 Tôi đã nhiều lần nói: - Đọc đám thơ Vô lối – thi tặc – giặc thơ như đi hội nghị sang trọng mà dẫm phải cứt người! Khó chịu, tởm lợm! Thật ra không nên đọc nhưng vì văn chương, vì thơ nước nhà phải đọc, phải bình bởi bọn thi tặc cầm chịch văn nghệ mậu dịch tác oai, tác quái trên thi đàn nên tôi lại động bút.

 Bọn thi tặc chuyên làm “vô lối – ( thơ không vần). Bọn chúng không biết là thơ không vần nhân loại và cha ông ta làm từ thuở khai thiên lập địa. Ngay khi ngồi trên ghế nhà trường các thầy đã nói làm thơ không vần như đi xiếc trên dây, rất dễ thất bại. Trí tuệ lớn, trái tim lớn mới có bài đứng lại, còn bọn “chấu cẩu” (chó) làm sao thành công!

 Phan Hoàng là tay trong đám Vô lối – thi tặc – giặc thơ ấy viết loăng quăng, uốn éo, làm bộ, làm tịch, dùng đầy Hán tự… thế mà chúng lăng xê hết lượt này đến lượt khác trên các báo mậu dịch chính thống. Tay này có đi bệnh viện lắp phải trái tim chó hay không sao mà viết như robot?

…“Quẳng gánh bôn ba phiêu bạt hư danh

gió bay về ngôi nhà ký ức tuổi thơ độc thoại gió xuân ký ức

như con bò đi hoang trở về hít thở mùi chuồng quen thuộc

cúi đầu tạ lỗi nghĩa trọng tình thâm

đêm đêm canh giữ tiếng thở mẹ nhọc nhằn

lòng nặng trĩu ngọn núi tuyết đông suy tư nhức nhói”…

 Đọc khổ này thấy lợm mửa của một thằng kịch hề giả dối!

…“Quẳng gánh bôn ba phiêu bạt hư danh…”

Câu cũ như trái đất, vô bổ, không có chút tình nào,giả vòe, giả vịt…

Câu  tiếp lại còn cũ hơn, lại làm bộ làm tịch hơn:

“gió bay về ngôi nhà ký ức tuổi thơ độc thoại gió xuân ký ức”

Câu cú nặng nề, lặp đi lặp lại!

 Khổ tiếp cũng viết ỏn ẻn, sáo rồng:

…”Ngoài vườn côn trùng mê mải reo ca

đón chào những  mầm non cựa mình vươn từ lòng đất

gió rón rén ép mình hơi ấm se thắt sinh thành

nước mắt lặng lẽ cứa vào lòng đêm

rơi theo tiếng thở mẹ nhọc nhằn dự báo…”

 
Toàn giọng điệu giả dối, không trái tim người!

 Đây là bài vô lối làm xiếc chữ về Mẹ, chứ có tình mẫu tử gì đâu!

 Thơ viết mề mẹ in chật trái đất, toàn bài  hay, chứ có như bài này của Phan Hoàng.

Nông phu thì có:

Cơm người khổ lắm mẹ ơi

Chẳng như cơm mẹ vừa ngồi, vừa ăn”

Hay:

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa 

Miệng mem cơm tấm lưỡi lừa cá xương

Người có chữ:

Du tử ngâm -遊子吟  - Mạnh Giao - 孟郊

遊子吟

 

 慈母手中線, 遊子身上衣;

 臨行密密縫, 意恐遲遲歸。

 誰言寸草心, 報得三春輝?

 

Du tử ngâm

 

 Từ mẫu thủ trung tuyến

 Du tử thân thượng y

 Lâm hành mật mật phùng

 Ý khủng trì trì quy

 Thùy ngôn thốn thảo tâm

 Báo đắc tam xuân huy.

 

Đỗ Hoàng dịch nghĩa

 

Sợi chỉ trong tay mẹ hiền,

Nay đang ở trên áo người đi xa.

Lúc mới lên đường, mẹ khâu kỹ càng,

Có ý sợ con chậm trễ trở về.

Ai dám nói rằng tấm lòng của một tấc cỏ,

Lại có thể báo đáp được ánh nắng của ba xuân?

Đỗ Hoàng dịch thơ:

KHÚC NGÂM CỦA CON ĐI XA

Mẹ hiền khâu sợi chỉ

Trên áo con đi xa

Lên đường mẹ khâu kỹ

Sợ con chậm về nhà

Ai dám một tấc cỏ

Báo đáp ba xuân qua!

 Phan Hoàng cũng như bọn giặc thơ đềuTàu hóa, dùng tràn lan âm Hán Việt chưa được Việt hóa! Nhiều bài trước Phan Hoàng đã dùng  hàng chục âm Hán Việt, bài này  dùng trên 30 chữ (36 chữ). Một thứ Tàu ô!

1, kết tủa -結瑣

2,bôn ba - 奔波

3,phiêu bạt -漂犮

4,hư danh - 虛名

5,độc thoại-獨話

6,ký ức, ký ức记忆

7, thân thuộc 親屬

8,tạ lỗi 謝誄

9, nghĩa trọng 義重

10, tình thâm 情深

11, côn trùng 昆蟲

12, mê mãi 迷買

13,sinh thành 生成

14, dự báo 預報

15,thế gian 世間

16, thanh xuân 青春

17, hoang sơ 荒初

18, đông

19, xuân

Bài phê bình trước,tôi đã nói Phan Hoàng nên rèo bò (theo đít trâu)  Bài này nhắc lại – chữ nghĩa kiều Phan Hoàng và bọn “thi tặc – giặc thơ” nên cho theo đít trâu suốt đời. Chúng không được bén mảng đến Văn  chương !

                 Hà Nội tháng 7/2022

                      Đ  - H

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

NGUYỄN QUANG THIỀU VỊNH - GIẶC THƠ

 


Đỗ Hoàng

NGUYỄN QUANG THIỀU VỊNH - GIẶC THƠ
Cờ thơ trao ác, thơ thần tiêu.
Vô lối tặc thi hưởng lợi nhiều.
Ở lổ trong chăn thèm cặc chó, (*)
Thủ dâm dưới nước ước lồn miêu (**)
Cưỡi xe, mặc váy đưa về chén, (***)
Gánh mắm không quần đem tới thiêu (****)
Nhất bảng phá tan hồn nước Việt
Giặc thơ vô lối Nguyễn Quang Thiều!
Hà Nội 6/2022
Đ – H
(*) Ý Vi Thùy Linh
(**), (***), (****) Ý Nguyễn Quang Thiều

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2022

Thầy Vương Đình Lợi - dạy toán tài ba

 

   


  THẦY VƯƠNG ĐÌNH LỢI – DẠY TOÁN TÀI BA

                           Đỗ Hoàng

   Trong đời học sinh của tôi có hai thầy dạy tôi chỉ một tiết học nhưng để lại dấu ấn trong đời rất sâu đậm. Đó là thầy dạy văn Lương Duy Cán – Nhà thơ Hà Nhật nối tiếng, tôi đã viết bài “Hà Nhật -  Ánh sao băng trên trời thơ Việt”, còn thầy dạy toán là Vương Đình Lợi. Hôm nay tôi viết về Thầy với bài “ Thầy Vương Đình Lợi – Dạy toán tài ba”!

    Tôi thi đỗ vào trường cấp ba Lệ Thủy, học lớp 8 năm học 1964 – 1965. Thầy Trần Chấn dạy toán lớp tôi. Thầy vừa làm Hiệu trưởng nữa nên có lúc đi họp vắng lớp. Các thầy khác dạy thay. Một lần thầy dạy thay bài “Đồ thị hàm số; Đường tròn Apoloniut” là thầy Vương Đình Lợi. Thầy Vương Đình Lợi dạy toán các anh chị lớp trên, lớp 9, lớp 10, còn bọn tôi mới lớp 8 nên không được học với Thầy!

 Thầy vào lớp phong thái nhẹ nhàng rất mô phạm.Đó là một người mảnh mai, thanh thoát. Thầy mặc áo trắng, cổ cứng, quần xi màu lông chuột, bỏ áo ngoài quần. Bộ áo quần còn rất mới! Thầy sáng rực trong lớp học. Lớp học tôi đa số con nhà nông dân nghèo.Chí trừ số con cán bộ huyện và cán bộ hợp tác xã áo quần tử tế còn thì đứa nào, đứa nấy áo quần vá đụp, vá chằng. Tôi tuy là con Đội, Quản nhưng Ba tôi mất người ta tịch thu hết gia sản, vàng bạc, máy may, xe đạp…. nên còn nghèo hơn con nông dân cố cựu! Tôi mặc quần áo vá đã đành mà áo hai bên vai rách bày da cánh tay.

 Thầy Lợi đi lên đi xuống nói năng khúc chiết rõ ràng, chứng tỏ Thầy nắm rất vững kiến thức toán một cách hoàn hảo! Thầy vẽ đồ thị hàm số hypecbol, parabol đẹp như trong sách giáo khoa. Rồi đến mục “đường tròn apoloniut” Thầy vẽ tay (không dùng com pa ) mà tròn trặn như vòng tròn in. Cả lớp vỗ tay thán phục. Số học sinh thị xã Đồng Hới chuyển lên học thì reo tiếng Nga: очень хороший (rất tuyệt), số ở Lệ Thủy thì nói tiếng Trung: 很好 (rất tốt). Thầy Vương Đình Lợi cười vui cũng nói tiếng Nga: Спасибо вам, ребята (Cám ơn các em). Không khí giờ học sôi nổi hẳn lên. Thầy giảng xong phần đường tròn “apoloniut”, thầy đang vui hỏi lớp:

-         Có em nào vẽ được đường tròn không dùng com pa?

Tôi giơ tay. Tôi học cấp hai rất giỏi toán nên lên cấp ba, toán lý hóa tôi đều vững vàng và tự tin. Thầy Lợi chỉ tôi lên bảng. Tôi học thầy cầm ngang viên phấn đưa cẳng tay vuông góc với khỉu tay quay một vòng, hình tròn như vẻ.

Cả lớp vỗ tay nhiệt liệt! добро пожаловать (hoan nghênh), большой (tuyệt vời, lớn), 天賦 (tài ba) 偉大的 (tuyệt vời)… Thầy Lợi nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến và khen:

-         Ты буду математиком (em sẽ là nhà toán học)!

Tôi vô cùng vui sướng, mũi phồng lên lọt chiếc máy cày!

Thầy giảng tiếp: “Nếu lập phương trình bắn tên lửa vũ trụ theo đường hypecbol thì tàu vũ trụ không quay về trái đất, còn lập phương trình bắn tên lửa vũ trụ theo đương parabol thì vệ tình sẽ trở về trái đất.”

  Rồi Thầy Lợi kể ngắn gọn cuộc đời, tài năng tự học của  nhà sáng chế tên lửa Xô Viết Xi ôn cốp xki - Константин Эдуардович Циолковский.  Ông sinh năm 1857  mất năm 1935 là một nhà khoa học lý thuyết, nhà nghiên cứu, người đặt nền móng cho ngành du hành vũ trụ hiện đại, nhà sư phạm, nhà văn Nga -Xô Viết. Ngoài ra ông còn được biết đến với vai trò là nhà sáng chế tên lửa Xô Viết, mà ông là người tiên phong trong lí thuyết du hành vũ trụ.

Công trình quan trọng nhất của Xi ôn cốp sky, xuất bản năm 1903, là "Khám phá khoảng không vũ trụ bằng động cơ phản lực" (tiếng Nga: Исследование мировых пространств реактивными приборами), được xem như là luận án đầu tiên về tên lửa. Xi ôn cốp sky tính toán rằng giới hạn nhỏ nhất cần đạt cho một quỹ đạo nhỏ quanh Trái Đất là 8000 m/s và nó thì có thể đạt được bằng phương tiện tên lửa nhiều tầng với nhiên liệu là hydro và oxi lỏng.

Trong suốt cuộc đời ông đã cho xuất bản trên 500 công trình về du hành vũ trụ và những vấn đề có liên quan, bao gồm cả tiểu thuyết viễn tưởng. Hầu hết công trình của ông là những thiết kế tên lửa, hệ thống nhiều tầng, trạm vũ trụ, nút không khí cho sự tồn tại của tàu vũ trụ trong môi trường chân không, và những chu trình sinh học khép kín nhằm cung cấp thức ăn và oxi cho những thuộc địa trong không gian.

Xi ôn cốp sky đã phát triển ý tưởng về đệm không khí từ năm 1921, xuất bản bài viết cơ bản về nó vào năm 1927, tiêu đề "Đệm không khí và con tàu hỏa tốc" (tiếng Nga: Сопротивление воздуха и скорый поезд). Năm 1929 Xi ôn cốp sky đề xuất xây dựng tên lửa nhiều tầng trong cuốn sách của ông mang tên "Di chuyển trong không gian với tên lửa" (tiếng Nga: Космические ракетные поезда).

Công trình của Xi ôn cốp sky ảnh hưởng đến các nhà chế tạo tên lửa khắp từ châu Âu, và cũng được các nhà sáng chế Mĩ trong những năm 1950 đến 1960 trong lúc họ cố gắng để hiểu những thành công của nhà bác học Xô viết trong những chuyến bay vào không gian. Các nhà toán học Việt Nam cũng rất giỏi, có giáo sư Việt ở Mĩ nguyên tư lệnh không quân Sài Gòn lập phương trinh cho tàu vũ trụ bay vào không gian!

  Chúng tôi nghe vô cùng mới lạ, vô cùng hấp dẫn. Đứa nào cũng tưởng lớp học mình là lớp học laapjphwowng trình bắn tên lửa vũ trụ! Chao ơi là thích thú. Tôi vốn là học sinh có năng khiếu môn toán nên nghe say mê không bỏ sót một lời nào của Thầy!

*

  Quảng cuối năm 1973, đơn vị tôi tăng cường vào miền Nam cùng dân chống lấn chiếm đât dai của quân ngụy thì tôi bị sốt rét ác tính phải vào quân y viện tiền phương điều trị. Từ một chàng trai béo tôi tôi thành con ma xó. Nằm viện một thời gian, tôi đi lại được nên đi quanh viện thăm thú.  Tôi thấy một người mặc áo quần bộ đội tô châu (của Trung Quốc) loại hai bạc màu đang đi trong viện. Tuy người ấy xơ xác da mặt, thân thể nhưng tôi vẫn nhận ra những nét quen thuộc những năm trước. Tôi lễ phép:

-         Thưa thầy, thầy là Thầy Vương Đình Lợi?

-         Đồng chí là ai? – Thầy nhẹ nhàng hỏi lại.

-         Em là Đỗ Hữu Lời, học sinh lớp 8 cấp ba Lệ Thủy niên học 1964 – 1965. Thầy có dạy lớp em một tiết toán!

-         Ồ thế hay quá, bây giờ chúng ta cùng chiến đấu, cùng nằm viện – Thầy nói vui, cười nhỏ nhẹ!

  Sạu đó những ngày tĩnh dưỡng tôi và Thầy hay sang lán của nhau đàm đạo , nói chuyện trên trời dưới biển.

-         Em nghĩ bây giờ Thầy đã là Tiến sĩ Toán rồi! – Tôi nói

-         Thầy cũng nghĩ có năng khiếu toán như em vào đại học làm Tiến sĩ Toán cũng không khó lắm! Thầy dạy ở Lệ Thủy một thời gian rồi ra quê, rồi đi học nghiên cứu sinh. Đang học dở, năm 1972 có lệnh tổng động viên, Thầy nhập ngũ - Thầy đáp và tiếp: Vào bộ đội họ đưa Thầy đi chăn nuôi lợn. Năm thàng gánh xách nặng quá nên Thầy bị “sađì” phải nhập viện - Thầy cũng tưởng em giờ đang ở Viện Toán đấy!

-         Vào bộ đội như Thầy phải chỉ huy toàn quân, ai lại bắt Thầy đi chăn nuôi lợn! Đơn vị em có ông chỉ giáo viên cấp một chưa chứng minh được tổng ba góc trong tam giác bằng 2v (180 độ ) làm lên đến đại tá đó. Còn cậu em, em chỉ nói đòn bẩy sơ sơ áp dụng kích kéo xe mắc lầy, ông làm đến  trung đoàn trưởng. Uổng phí tài của Thầy! - Tôi xúc động nói.

-         Trừ những binh chủng đặc biệt của quân đội còn những sư đoàn bộ binh của em, của Thầy thì cần chi Toán. Ông Giáp chỉ huy toàn quân học Luật thì sao? Giỏi Toán làm Thầy thôi - 神基妙算萬天師 (Thần cơ diệu toán vạn thiên sư – Giỏi toán là ông thầy muôn đời) 

- Thầy cũng biết tiếng Trung? – Tôi hỏi

- Bố Thầy là ông đồ Nho mà !– Thầy cười đáp.

 Sau đó, tôi kể khúc nôi đoạn trường đời mình cho Thầy nghe.

“Em học vững vàng cả tự nhiên và xã hội. Năm học lớp 7 cấp hai, em đi thi học sinh giỏi cả Văn lẩn Toán. Thi tốt nghiệp lớp 7 niên học 1963 – 1964, em làm các môm Toán, Lý, Hóa , Sinh, mỗi môn chỉ 10 phút,  làm ngỡ ngàng các thầy cô giám thị, thầy cô trong trường và cán bộ xã đến thăm trường! Tay Trần Đức Tâm, chủ tịch xã, người cùng làng không nén nỗi căm tức nói toạc móng heo giữa hội đồng Giám thị:

-         Thằng ni học giỏi mần được cái cục cứt chi! Gia đình nó là gia đình nợ máu Cách mạng!

Điều nay em nghe được là do thầy Nguyễn Như Thịnh dạy Văn, thương em tự đi làm hồ sơ cho em đi thi cấp 3 nói lại.

  Thầy Vương Đình Lợi trầm ngâm một lúc rồi hạ giọng:

-         Không có chế độ nào làm vừa lòng mọi người cả em ạ! Ngay cả nước Mỹ giàu có như thế, dân chủ như thế đâu vừa lòng hết mọi người!

Tôi kể tiếp:

-         Chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng, cấp ba Lệ Thủy sơ tán ra Tuyên Hóa cuối tỉnh Quảng Bình giáp Hà Tĩnh học. Em vẫn học vững vàng các  môn, em được thầy giáo chủ nhiệm phê trong học bạ: “Học thuộc loại khá giỏi, có năng khiếu môn Toán”. Nguyện vọng vào trường, em vẫn ghi là “ trường đại học Tổng hợp Toán” Thầy ạ! Tay Trần Đức Tâm, Chủ tịch ghi trong hồ sơ lý lịch phần ý kiến của địa phương: “Đối tượng này, gia đình nợ máu Cách mạng cho về địa phương lao động cải tạo lâu dài”! Tốt nghiệp cấp ba, năm học ấy học sinh tuyến lửa không phải thi đại học, ai tốt nghiệp đều tuyển thẳng vào đại học! Em về quê lao động  không biết mệt mỏi nuôi mộng vào đại học Toán! Sau bao nhiêu thời gian em làm hồ sơ dự thi đại học. Em được tuyển vào đại học ngoại ngữ khoa tiếng Pháp nhưng trên đổi giấy báo đi học chuyển em xuống Cao đẳng Sư phạm. Về Cao đẳng Sư phạm em vẫn vào khoa Toán Lý! Em dạy học một thời gian ngắn rồi tình nguyện nhập ngũ!

 Một lần tôi đến chơi lán Thầy ở thấy từ điển tiếng Nga, bản thảo dày cộp dịch toán từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Tôi khâm phục bội trong bụng thầm nghĩ : “Thầy mình giỏi thật”. Hồi ấy ở trong biết tiếng Nga để dịch công trình toán như thầy Lợi chưa nhiều lắm đâu.

Thấy sách vở để ngỗn ngang, tôi nói:

-         Công trình của Thầy rất hiếm và quý, Thầy để thế mất thì tiếc lắm!

Thầy cười:

-         Chẳng ai lấy cái không đọc được, Thầy để cả tháng trời chẳng có việc gì.

Sau đó Thầy trầm giọng:

-         Thầy thấy em trẻ tuổi mà thích tìm hiểu triết học, Thầy khuyến khích. Toán triết cũng cho chỗ gần nhau ở mặt suy luận. Hôm trước nói với em  “không có chế độ nào làm vừa lòng mọi người”, Thầy nghiên cứu toán cũng có ý phản biện xã hội nhưng các giáo sư bảo: “- Đạo Phật mà người ta cũng bài xích thì các anh nên yên tâm làm toán!”. Người ta mạnh lắm, họ học theo Hitler:

-         “Ta có tổ chức

Ta có sức mạnh

Ta có sức mạnh 

Ta có lẽ phải!”

 

*

Câu trên có phải của Hitler hay không , tôi không biết, nhưng tôi nhớ nó suốt đời. Khi trở thành nhà phê bình thơ Vô lối tôi thường đem các câu này ra để đập bọn phá hỏng thơ Việt.

 

                   Hà Nội 5/2022

                       Đ - H