Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

Thơ Vô lối Nguyễn Khoa Điềm khi về thường dân




THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN
 
                                                   Đỗ Hoàng

      Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những người làm thơ cổ động cho miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến hai miền Nam Bắc Việt Nam thập kỷ 50, 60, 70 thế kỷ trước có sự trợ giúp của nước ngoài ở cả hai phía. Nói cho đúng đó là cuộc nội chiến nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn của dân tộc Việt Nam bị các thế lực nước lớn giật giây chi phối cả đôi bên. Trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm xếp sau các nhà thơ khác như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy…Khi Nguyễn Khoa Điềm làm quan to thì thơ ông mới to theo, trước đó mấy ai biết ông.
 Thơ của thế hệ này là thơ tuyên truyền một chiều, một phía cho cuộc đánh nhau vì quyền lợi phe nhóm.
Lạ lùng cuộc đời nay
Đến văn chương cũng đĩ
Loài người làm khổ thay
Cái chiến tranh vô nghĩa!
(Tâm sự người lính 1973 – Đỗ Hoàng)
 Chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng là nỗi đau muôn kiếp của nhân dân cần lao. Các bậc thánh nhân ngày trước bất dắc dĩ mới dùng đến binh khí:
Nãi tri binh dã thị hung khí
Thánh nhân bất đắc nhĩ nhi dụng chi
(Lý Bạch)
Binh đao ác độc vô cùng
Thanh nhân cực lắm mới dùng ai ơi!
(Túy thì ca – Đỗ Hoàng dịch)
Sư chi sở xứ
Kính các sinh yên
Đại quân chi hậu
Tán hữu hung niên
(Lão tử)
Chỗ đóng quân lính
Gai góc mọc đầy
Đằng sau cuộc chiến
Đói khổ lắm thay!
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
 Những người tham gia cuộc chiến hai miền họ cũng không thoát khỏi áp lực của thể chế, vừa do văn hóa, do tầm nhìn, tầm nghĩ hạn chế nên cả một thế hệ nói theo bài bản định sẵn, viết sẵn hay áp nà, nói lấy được. Những câu chưởi địch không đau, không phải thơ,  kiểu chưởi hàng tôm, hàng cá:
Thành phố mọc như nấm độc những xnách-ba
Mỹ và đĩ
 (Con gà đất cây kèn và khẩu súng – Nguyễn Khoa Điềm)
Hay:
Chỉ cần sự bảo chứng của đô la và súng máy
Cùng cái đầu tối tăm của Giôn xơn, Ních Xơn đặt vào trên đấy!
(Giặc Mỹ - Nguyễn Khoa Điềm)

  Thơ họ là dàn đồng ca không lồ muôn người như một, hô khẩu hiệu suông, cũ kỹ, mòn vẹt , véo von, rập khuôn, sáo rỗng, không có tư tưởng, vô cảm trước nỗi đau của nhân quần trong cuộc chiến đầy chết chóc, xương núi, máu sông! Hình thành nên trùng trùng điệp các nhà cổ động viên, nhà ca học, cười học, hót học, hát học, tấu hài học vô tình hoặc cố tình …
  Thơ Nguyễn Khoa Điềm là loại dịch nghị quyết tuyên huấn cấp xóm khô khan, không một chút truyền cảm.  Nhiều kiểu định nghĩa các phạm trù đất nước, quê hương không đầy đủ, không chính xác, có phần phản cảm:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm(!)
(Đất nước – Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
Đất là nơi anh đá bóng cũng phải kể  ra chứ… Nước là nơi em khỏa thân soi gương phải kể ra chứ…
   Trong văn chương cũng như trong toán học có những cái không định nghĩa mà chỉ mô tả. Điểm. mặt phẳng, trong toán học; tổ quốc, đất nước, quê hương trong văn học…là những mệnh đề người ta chỉ mô tả mà thôi. Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa đất nước thì bao giờ cho đủ.
     Khi đường công danh Nguyễn Khoa Điềm càng cao, sự khô khan xơ cứng trong thơ lại tỷ lệ thuận với chức quyền, còn chất lượng thơ thì tỷ lệ nghịch với chức quyền. Đúng là được mùa cau thì đau mùa lúa; được mùa lúa thì úa mùa cau.
  Cammus từng nói: “Tôi không vì thơ ca mà hy sinh chính trị, nhưng tôi hy sinh những gì làm hại cho thơ ca”. Đấy là chính trị của một châu lục có truyền thống dân chủ tiến bộ, còn chính trị của cộng sản phương Đông, chính trị Tàu Ô thì thôi rồi lượm ơi! Phải bỏ thơ ca mà đi làm kỹ thuật thôi!
  Nguyễn Khoa Điềm muốn bắt cá hai tay, vừa làm quan thật to, vừa là nhà đại thi hào. Con rô cũng tiếc, con diếc cũng tham. Nhưng cuộc đời không cho ai vừa giàu như Bin gết, vừa tài thơ như Đỗ Phủ, vừa nhà chính trị quân sự lỗi lạc như Thành Cát Tư Hãn, đep trai như Platini (cầu thủ đá bóng) …Thời coi Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay cho lắm. Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng , cấm internet, đốt thành tro bụi nhưng tập sách như Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Chúa trời ngù gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội Nhà văn Việt Nam…Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đống để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như: phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho), làng văn hóa Đồng Mô (làng bỏ hoang), Bác Hồ với văn nghệ sỹ…
   Đường hoạn lộ của Nguyễn Khoa Điềm khá hanh thông. Nguyễn Khoa Điềm quan quá to. Ông trùm tư tưởng văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Rồi đứt gánh giữa chừng. Ông quan to Nguyễn Khoa Điềm phải về vườn lúc tuổi chưa đến 60, còn một hai nhiệm kỳ trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nữa, nhưng lại bị ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo viết đơn tố Nguyễn Khoa Điềm không phải là đảng viên và có thời gian bị tù ở lao Thừa phủ - Huế khai báo với địch.
 Chuyện này tôi biết ở Bảo Đảng Bình Trị Thiên năm 80 – 87. Hồi ấy có chủ  trương ngầm là ai bị tù ngụy thì phải hy sinh cho Đảng, không được tham gia chính quyền vì không biết ai khai, ai trung thành.
  Khi ra Hà Nội học, tôi nghe các anh trong Ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam bảo là có đơn tố cáo nói là Nguyễn Khoa Điềm không đảng viên. Tôi nói, tôi có biết việc này hồi ở Huế, nhưng tôi không tin. Vì tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam chặt lắm. Võ Đại Tôn gián điệp về nước đòi lật đổ chính quyền, mới qua biên giới Thái - Lào, mà Hà Nội đã chưởi cha ông Võ Đại Tôn bóc lột nhân lao động Bắc bộ, biết cả chuyện cha ông Võ Đại Tôn hiếp dâm nông dân đẻ ra hàng loạt địa chủ cường hào ác bá khác.
  Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự len lỏi để làm quan và làm quan to của mình:
Anh mê mải trên đường hoạn lộ
Ngảnh về quê hư ảnh một vầng trăng
(Cõi lặng).
Thời làm quan to của Nguyễn Khoa Điềm là thời uy tín Cách mạng Việt Nam ở vào “ giai đoạn thoái trào”. Đảng Cộng sản Việt Nam xóa bỏ tất cả các đảng phái trở thành đảng độc tài chuyên quyền, đảng trị mất uy tín trầm trọng trong lòng dân tộc. Thời oanh liệt của Đảng Lao động Việt Nam không còn nữa. Thời dân và Đảng trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào đi vào miền cổ tích. Nạn tham nhũng, mua quan bán tước lan tràn vô phương cứu chữa, quan lại làm giàu trên nước mắt mồ hôi người lao động.
Nó không khác gì bài ca tố cáo địa chủ, phong kiến đàn áp dân nghèo thời tiền Cách mạng:
Chưa hết mùa, trong nhà ta đã hết lúa
Đói xác xơ thương đàn con vất vả
Môn khoai sắn ngày qua ngày lọt dạ
Bởi địa tô chúng bóc lột công sức ta.
Chúng cấu kết cùng nhau cường hào gian ác
Đại chủ ngoan cố đè nén lên đầu bao người
Làm giàu trên nước mồ hôi người nông dân
Cướp trâu, cướp ruộng, cướp nhà người nông dân
Cướp con, cướp vợ, cướp nồi người nông  dân
Bần cố nghèo khổ muôn đời…
   Trước đó nhiều kẻ sỹ, thi sỹ như: Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi, Trương
Tửu, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán ...đã rút lui để giữ khí tiết.
 Bang hữu đạo tắc hiện, bang vô đạo tắc ấn. Bang hữu đạo bần ngã tiện ư sỷ giả, bang vô đạo phú ngã tiện ư sỷ giả (Nho giáo – Khổng tử) Nghĩa là: Nước có đạo thì nên ra làm việc giúp đời; nước vô đạo thì nên lui về giữ danh tiết. Nước có đạo mà ta nghèo là ta xấu; nước vô đạo mà ta giàu là ta xấu. Bỡi vì nước có đạo dung hiền tài, ta không tài nên mới không được dung nên phải nghèo. Nước vô đạo dùng kẻ xấu xa, ta xấu xa nên mới được dùng thì giàu là quá xấu.
  Người quân tử phải hiểu ra điều đó. Người không hiểu ra thì không phải là quân tử. Kẻ không quân tử mới bè phải, đảng phái.
   Quân tử bất đảng phải (Luận ngữ) - Quân tử không bè đảng, không bè phái. Quân tử, đại trượng phu, thi nhân không a dua, không hùa với đám đông:
Thị dĩ đại trượng phu
Xử kỳ hậu bất cự kỳ bạc
Xử kỳ thực bất cự kỳ hoa
Cố khứ bỉ thư thử
(Lão tử)
Phàm bậc trưởng lão
Xa chốn nhố nhăng
Bỏ hoa lấy quả
Trời đất cân bằng!
(Đỗ Hoàng dịch)

 Chuyện chính trị nói như trong Nam là không bàn, nay chỉ nói chuyện thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức về vườn.
  Người Việt hay nhân loại nói chung đều tha thứ lỗi lầm của con người trước đây. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn viết được, còn trăn trở cùng nhân dân thì là điều đáng quý. Chuyện đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma thì mặc áo giấy là chuyện người tầm thường của muôn đời rồi. Những tài năng xuất chúng, thiên tài mới không mặc áo, ở trần dù đi với ai.
  Thánh Phê rô một tông đồ thân cận của Chúa Giê su. Trước đó là một tội đồ quyết tâm hành hung giết Chúa. Sau khi được cải hóa, thánh Phê rô có nhiều thành tích trong làm việc nghĩa, việc thiện được Chúa tin yêu. Có lần Thánh Phê rô hói Chúa: - Người bị phạm lỗi 7 lần tha thứ có được không? Chúa trả lời: - Kẻ phạm tội, ta 77 lần tha thứ.
   Thơ tuyên truyền của Nguyễn Khoa Điềm trước đây được giới phê bình chính thống tung hô rầm rộ; thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm khi về vườn cũng được một số người cỗ vũ.
  Để có cái nhìn đúng về những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm mà gọi là thơ gần đây, tôi có vài thiển ý nhỏ.
  Tất cả những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm trên các trang mạng xã hội, báo in chính thống đều thể hiện một tâm trạng bực tức, hằn học, tiếc nuối thời vàng son. Không có một chút gì gọi là thơ ca. Nó là một thứ Vô lối đang thịnh hành mà Nguyễn Khoa Điềm cố từ chối không nhận mình là làm Vô lối:
Rằng tôi không bợ đỡ ngôn từ, điếu đóm hậu hiện đại
Bưng mâm cho các cô nàng gót sen ba tấc chữ
(Comment – Tạp chí Thơ số 4 -2013)
 Nguyễn Khoa Điềm làm Vô lối nhưng viết không chân thành, giả nên không vào lòng người đọc.
 Từ xưa đến nay, trong nước và trên thế giới, nhiều nhà thơ làm quan to, thậm chí là vua giữ nhiều trọng trách của đất nhưng thơ của họ đi vào lòng dân, được nhân dân truyền tụng:
Oa oa …oa oa..oa oa!
Cha  trốn đi lính nước nhà
Nên khổ thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha!
(Hồ Chí Minh)
Chu Thần nay ở nơi đâu
Để cho Miên Thẩm lên lầu không an
Tháng ngày tựa án lan can
Mãi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn
Dấu xưa nay biết đâu tìm
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non
Trăng kia khi khuyết khi tròn
Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
(Sóng Hồng- Trường Chinh)
   Nguyễn Khoa Điềm viết cho bạn thân là người từng đóng gạch với mình, người tri âm tri kỷ nhưng vẫn lấy cái giọng kẻ cả, khệnh khạng quan trên  ban phát thương xuống, không một chút rung động:
Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người
Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho nhiều sách, Ối giời là thơ!
….
Mong sao bạn bớt bồi hồi
Hãy làm thơ nữa để rồi gặp nhau.
(Bạn thơ – Nguyễn Khoa Điềm)

Sự khệnh khạng, cao ngạo bề trên, hổn xược với tiền nhân thể hiện nhan nhản trong thơ và trong Vô lối của ông:
Cái chết của viên tham tri hay thơ âm thầm trong chính sử
Mất hút một con thuyền chuồi qua cửa Thanh Long
(Nguyễn Du)

Thơ ca là bộc lộ sự thành thật, sự thành thật được trọn vẹn thì thơ hay (Bê se)
 Ngày trước,  thi hào Bạch Cư Dị là một trong tam kiệt của Đường thi (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị). Ông làm quan đến Thượng thư nhưng thơ rất chân thành. Ông không đạt chiều cao của Lý Bạch, chiều sâu của Đỗ Phủ nhưng ông đạt được chiều rộng của thơ, chỉ vì khi nói tới nỗi khổ con người ông là người ngoài cuộc. Nhưng không vì thế mà không xúc động, không lưu truyền đến đời sau:
Kim ngã hà công đức?
Tằng bất sự nôn tang
Lại lôc tam bách thạch
Tuế án dữ dư lương
Niệm thử tự tứ quý
Tận nhật bất năng vương
(Quan nghệ mạch)
Ta có tài đức gì?
Không hề đi cấy cày
Lương ba trăm thạch thóc
Hết năm bồ còn đầy
Nghĩ vô cùng hổ thẹn
Mặt đỏ hết mấy ngày!
(Xem gặt lúa)
Thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn giả, luôn luôn sượng không thành tâm chút nào:
Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ
Bên dòng sông như chưa biết chiều tan
Tôi với nó lặng im bè bạn
Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang
(Chiều Hương Giang)
 Bản thân anh và loài người anh xơi tái hàng tỷ con bò mà vẫn coi nó là bạn thân thì là một việc xưa nay hiếm(!)
Một việc xưa nay chưa từng có.
Anh xơi tái muôn loài gặm cỏ
Mà chiều nay anh nổi tuyên ngôn
Anh với chúng bạn bè gắn bó!
(Thơ 4 câu – Đỗ Hoàng)
  Nhìn chung tất tần tật Nguyễn Khoa Điềm viết cái gì đều không thật, như là của giả.  Trong chính trị người ta thường dùng thủ đoạn để lừa nhau, để tranh thủ phiếu. Chỉ một cái táng tận lương tâm, kẻ hãnh tiến đoạt được một giang sơn. Song trong thơ ca dùng lừa đảo hoặc nói điều giả đối thì anh mất sạch. Giả dối là điều tối kỵ với thơ ca.
 Nguyễn Khoa Điềm than nghèo, nhưng người đọc nghe nó sến sến thế nào, bởi Nguyễn Khoa Điềm có nghèo đâu. Nhà lầu bốn năm tầng ở khu quan to Đội Cấn – Hà nội một thời có lính gác, nhà vường ở Huế mấy con mèo, con chó chạy một ngày chưa chắc đã hết vườn. Rồi còn biết bao của chìm của nổi khác nữa. Lương hưu của Nguyễn Khoa Điềm cao gấp mấy chục lần nhưng cán bộ quèn đang công tác. Làm sao mà nghèo được. giả nghèo thì được làm thơ giả nghèo thì là đồ giả.   Một ông quan to cỡ tột đỉnh như Nguyễn Khoa Điềm, nhiều kẻ có trang trại trên núi non chuyển đổi đất mường thành đất thủ đô thì làm sao họ cơ ngã như nông dân được. Họ làm sao mà nghèo đói. Một ông bí thư chi bộ xóm trong thể chế đảng trị cộng sản hơn nhiều lần quan phụ mẫu ngày xưa. Nên cái việc than nghèo của ông quan nhất phẩm Nguyễn Khoa Điểm rất giả dối:
Đêm đêm cái nghèo vuốt ve trán người chồng
Khẻ nâng bàn tay người vợ
Đặt cái hôn lên đôi chân trần đứa trẻ
Và thầm ngủ ngon… ngủ ngon…
(Đêm đêm – tạp chí Thơ số 4 -2013)
        Cái nghèo đi đêm của Nguyễn Khoa Điềm không đàng hoàng chút nào. Cái nghèo này là cái nghèo khai bậy để hưởng hộ nghèo mà Nhà nước triển khai mấy năm qua.
      Hơn nghìn nắm nay, các thi hào kim cổ đều nói tới cái nghèo. Cái nghèo của họ có thật nhưng không bị lụy, không khai gian nghèo. Họ nói lên được  cái nghèo của họ được mọi người đồng cảm thấu hiểu và chia sẻ. Nghèo họ cũng là nghèo mình. Nghìn năm rồi đọc cái nghèo của Đỗ Phủ ta còn xúc động:
An đắc hạ thiên vạn gian
Đại tý thiên hạ hàn sỹ câu hoan nhan
Ô hô! Hà thì nhãn tiền đột ngột hiện thử ốc
Ngô lư độc phá thu đồng tử diệc tức.

(Ước được vạn gian phòng rộng rãi
Kẻ sỹ nghèo có mái nhà che
Bao giờ? Hãy hiện ngay đi.
Thân ta chết cóng có gì ngại đâu.)
(Đỗ Hoàng dịch)
(Mao ốc vị thu phóng sử phá ca -
Bài hát gió thu thổi tốc nhà)
Xúc động với cái nghèo của Nguyễn Trãi:
Thập tải đọc thư bần đáo cốt
Bàn vô mục túc tọa vô chiên
(Mười năm đọc sách nghèo đến tủy
Mân không rau cỏ, chỗ đâu ngồi)
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
Cái nghèo của Nguyễn Du thậm đau đớn. Cha làm quan mà con đói rét. Có khác gi Đỗ Phủ làm Tả thập di – Quan can gián vua mà con chết đói:
Thập tử cơ hàn bắc môn ngoại
( Mười miệng đói xanh ngoài cửa Bắc)
Và Nguyễn Khuyến:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng dám mua.
 Thơ ca cổ kim có nói đến cái chết. Chết là cái quan định luận. Lúc đó mới nói đúng cái được cái mất của đời người. Các thi hào xưa nay nói tới việc này một cách vô tư, thanh thoát, nhẹ nhõm, bởi vì cuộc đời của họ quá sáng trong, không bụi mờ:
Sống không để tiếng đời ta thán
Chết lại về quê quán hương thôn
Mới hay trăm sự vuông tròn
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì
(Di chúc thư – Nguyễn Khuyến)
Hay:
Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời
(Cao Bá Quát)
Nguyễn Khoa Điềm nói đến cái chết như một lời thách thức, cao ngạo, rất cải lương, khô khan đại hạn:
Khi cái chết chắn cửa
Đời tôi
Cám ơn!
(Comment)
 Phần viết của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức quan to về vườn không có đổi mới, sáng tạo gì. Nó là một  thứ Vô lối xuất hiện từ mấy thập kỷ vừa qua. Nhiều câu dở hơn câu nói bộ:
Dậy thức hút thuốc vặt ( Đất nước những tháng năm thật buồn)
Tôi bày tỏ chính tôi,câu chữ của tôi, nước mắt của tôi (Comment)
Ngoài đường trẻ con đi học, trong nhà người già ngủ (Mùa bình thường)
Dùng nhiều âm Hán Việt , chữ nước ngoài chưa được Việt hóa: trật cước, comment…
  Người đọc tìm đọc Nguyễn Khoa Điềm làm thơ khi mất chức là vì người đọc tò mò, hiếu kỳ, không biết ông quan to hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc của “triều đình”, bao nhiêu phần trăm dự án ma, dự án không ích nước lợi dân, bao nhiều biệt thự, đất đai mà vẫn làm thơ, thơ hồi hưu có khác gì không?
  Dù những điều Nguyễn Khoa Điềm viết ra chưa phải thơ nhưng bạn đọc cũng có phần đồng cảm những nỗi trăn của ông. Hóa ra khi ngồi dưới đất ông mới thấy rằng dân đen người ta đau khổ biết nhường nào. Nỗi khổ của họ có phần do ông gây nên.
 Bây giờ có nhiều quan điểm thơ: thơ siêu việt, thơ hậu hiện đại, thơ hậu hậu hiện đại. Tìm tòi là đáng quý, nhưng tìm tòi phải vào trái tim người đọc. Còn viết những điều mình cũng không hiểu, không biết thì làm sao thành công.
 Thơ hậu hiện đại của Ion Milos (nhà thơ Thuỵ Điển) vào được đọc giả vì có tứ, có nghĩa, tầm tư tưởng, triết học cao:
Tôi mua một con chó
Để có bạn bầu
Trò chuyện sớm hôm..

Và rồi một hôm
Chó thổ lộ với tôi một điều rất lạ.
Rằng con người đã từ lâu
Không còn nói ngôn ngữ của con người…
(Con người và con chó - Phạm Viết Đào dịch)
Thơ và Vô lối Nguyễn Khoa Điềm không như vậy.
    Đáng ra nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm phải chân thành hơn, sám hối hơn:
“Ta xin chịu tội khi ta u mê cái triết học du nhập lai căng lỗi thời, không nói cho đám đầu trâu mặt ngưa đồng liêu với ta tỉnh ra,
khi ta trù úm, sát phạt với các huynh Hoàng Minh Chính, Trần Độ,
Xin thắp nén nhang cho các tác phẩm ta ra lệnh đốt thành tro
Lạy văn sỹ tài danh Dương Thu Dương bị đi tù.
Vái linh hồn các nhà dân chủ, các trang mạng xã hội chính ta đàn áp
Các chị bán cá Vỹ Dạ ơi!
Tôi xấu hổ giọt nước mắt tôi trộm rơi
Khi nhìn các chị chao chát nói cười, tiếng thở than hả hê, tiếng rên rỉ của những tờ bạc vụn.
Trong khi tôi tiêu hoang bạc kho, vàng đụn
Lấy thuế từ tấm lưng còng của các chị đây!
Từ nay đi cùng các chị
Tôi tự căm tôi đã đào tạo nguồn những tay làm nghề tôi, nối ngôi tôi là nghề nói láo!
Nghề mà phải bớt gạo
Trong nồi của các chị để cho chúng nó ba hoa!
Ôi biết bao cuồng phong văn chương bão táp do tôi gây ra

Tạ lỗi quê nhà
Tạ lỗi những người mò hến không có hến ngày ngày đêm đêm bên Cồn Hến để kiếm cháo rau

Điềm tôi đây
Xin đập đầu chịu tội!
   Tôi tin nếu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết như thế chắc bạn đọc sẽ quý trọng ông nhiều hơn nữa!
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2013
Đ - H


Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020

Có một Đỗ Hoàng



Có một Đỗ Hoàng
Cập nhật lúc 09:55, Thứ sáu, 15/02/2013 (GMT+7)
print 
(Thanh tra) - Đỗ Hoàng đã lao tâm khổ tứ, toàn tâm toàn ý cho việc dịch, chú thích, giải nghĩa cho Kiều Thơ. 6.122 câu thơ lục bát được sáng tạo, nhiều câu cũng ngân nga bay bổng không khác gì câu Kiều là một thành công lớn, đột phá trong làng thơ Việt. Tác phẩm xứng đáng là tư liệu rất cần cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trường.

Nhà thơ Đỗ Hoàng
1. Lãng mạn số một

Làng văn, làng thơ, làng dịch, ai cũng biết ông. Trước hết, là có tài biện bác. Thông kinh, thông sử, cái gì gắn với văn thơ là tìm tòi, là thuộc, là dịch, dịch không được là… diệt! Bạn bè, thủ trưởng, tuổi tác, trai gái không thành vấn đề. Ai cũng có thể khen, cũng có thể chê. Trước khi say có thể khen, sau khi say có thể chê… Được cái, dân văn chương, bỏ qua tất cả, cốt là có chút tài. Văn chương là định mệnh. Không có lãng mạn, tài cũng vứt! Hôm trước… mắng tổng biên tập một tạp chí, nghe cứ như đang mổ bò; hôm sau: Anh cho em về cộng tác… OK!

Ngày trước, Xuân Diệu cũng cho mình là nhất: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”. Nay, thêm Đỗ Hoàng, hay Đỗ Thi, Đỗ Cử... nữa thì làng thơ Việt vẫn cứ là làng thơ Việt! Có tái tạo được gì đâu, có xoay chuyển được thần sầu, thần say gì đâu? Nhân quần vẫn phải vã mồ hôi cày cấy, chăn nuôi, lên rừng hái củi, ra biển đánh cá, lặn mò ngao cua, hàng quán vẫn phải mở suốt ngày đêm, vào cơ quan Nhà nước vẫn như vào cửa quan…

Thơ làm mãi mà nhà máy không thấy mọc, dọc biển không thấy yên bình… Suốt ngày, đọc thơ cho nhau nghe, tán tụng nhau lên tận mây xanh, rồi gửi thơ, in thơ, phát thơ... cứ như phát lộc! Dùng thơ tán gái thì cứ như có phép tiên. Câu nào cũng tình tứ, bát ngát cỏ hoa, dựng sẵn thiên đường cho em, mãi vì em… Trong tình yêu thì rất mạnh mẽ, có hiệu quả:  Xuân Diệu và nhiều nhà thơ lãng mạn khác phải gọi Đỗ Hoàng bằng… cụ. Ông Đỗ này, cả thực tế, thực tiễn đều có pha chút lãng mạn. Trong công việc, thì giống nhiều vị văn chương khác thường ham vui, quên sự nghiệp, “quên hết lời em dặn dò” là đương nhiên…

2. Định đứng lên vai Đại thi hào

Đó là bạn bè lúc vui, trong cuộc rượu, tán thế!

Những nhà thơ Việt, có vai, có vế, sểnh ra, có câu thơ nào, bài thơ nào chưa vừa ý Đỗ Hoàng là ông “dịch” ra ngay “bằng tiếng Việt” theo giọng thơ Đỗ Hoàng. Thật Đỗ Phủ, Lý Bạch có tái sinh cũng phải… lắc đầu. Vì có nhà thơ lão luyện đã khẳng định: Thơ là nhạc, là hoạ, là chạm khắc theo một cách riêng! Và, “ vần hay không tôi vẫn coi là thứ yếu, nhưng vắng âm thanh réo rắt đố thành thơ” (Sóng Hồng). Như vậy, sáng tạo thơ, văn, nhạc, hoạ là sáng tạo riêng, hàng độc, không ai có thể thay thế.

Nhưng, việc “dịch” thơ Việt ra thơ… Việt của Đỗ Hoàng có tác dụng cảnh tỉnh những kẻ “tập tọng” làm thơ, thích nổi danh. Và, kể cả những “trưởng giả” trong làng thơ có khi cũng phải giật mình, vì ý tứ, vì ngôn từ trong thơ, nếu chểnh mảng, sơ suất mà có kẻ chọc ngoáy, “báo cáo” Đỗ Hoàng để “dịch” ra thơ… Việt là toi đời! Thơ Đỗ Hoàng vì thế càng nổi danh.

Nhưng, nổi danh nhất có lẽ là việc dịch lại Truyện Kiều. Gặp Đỗ Hoàng tôi hỏi:

- Ông có ý định ấy thật sao?

+ Thì tôi đã điện thoại nói với anh là sách in sắp xong rồi mà. 6.122 câu thơ lục bát, sách in độ gần 400 trang. Hay lắm! Anh đọc là mê ngay!

- Thế dịch thêm để làm gì? Nhân loại đã có một Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du, năm 1965, cụ đã được tôn vinh Danh nhân Văn hoá Thế giới!

+ Ồ, tôi phải công phu lắm anh ơi! Phải bò ra quên ăn, quên ngủ mất gần 2 năm trời để dịch toàn văn Kim Vân Kiều truyện, bản gốc chữ Hán ra thơ lục bát Việt Nam… không bỏ sót một câu nào.

Quả là dân Toán đi học Văn, làm thơ. Nhiều người nói với tôi: Chê trách Đỗ Hoàng làm cái việc “đội đá, vá trời”. Nguyễn Du đã rất thiên tài khi gom toàn bộ cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm tài nhân bên Trung Quốc từ xưa và phóng tác, chuyển hoá hoàn toàn thành Truyện Kiều bất hủ. “Truyện Kiều còn thì nước Nam còn”! Các học giả Việt Nam cách đây gần 100 năm đã không ngớt lời ngợi ca.

“Những câu Kiều ngân nga đưa cuộc đời bay bổng”(Lê Đạt) đã thấm vào máu thịt, tâm hồn người dân Việt. Cho nên, khi thông tin Đỗ Hoàng dịch lại Truyện Kiều làm chấn động dư luận, đại đa số học sinh và thầy giáo rất quan tâm đến sự kiện này. Các nhà quản lý hỏi nhau và vỡ nhẽ ra: Đỗ Hoàng dịch hết Kim Vân Kiều truyện đến từng câu, chữ, chi tiết, kể cả thơ viết trên cây, trên đá của Kiều, của Kim Trọng, Thuý Vân, Thúc Sinh… thành một loại tư liệu bằng thơ, dễ đọc, dễ nhớ, dễ minh hoạ cho Truyện Kiều của Nguyễn Du và cho tài năng, tuyệt bút của Đại thi hào thì càng tốt chứ sao?

Đỗ Hoàng đã lao tâm khổ tứ, toàn tâm toàn ý cho việc dịch, chú thích, giải nghĩa cho Kiều Thơ. 6.122 câu thơ lục bát được sáng tạo, nhiều câu cũng ngân nga bay bổng không khác gì câu Kiều là một thành công lớn, đột phá trong làng thơ Việt. Tác phẩm xứng đáng là tư liệu rất cần cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong nhà trường.

Nhưng, chắc khi sáng tạo ra Kiều Thơ, Đỗ Hoàng, vốn coi thường danh lợi, không định như mấy ông bạn thơ thường đùa: Đứng trên vai Đại thi hào để được cao hơn?

Hoàng Trí

Gái đĩ lừa khách...


 

TÌM HIỂU GÁI LÀNG CHƠI LỪA KHÁCH
Trong KIỀU THƠ của  Đỗ Hoàng (tiếp theo)
(Vành ngoài 7 chữ)
A -   Giả khóc 
Cách một - -khấp::  Khấp, phương pháp quyến khách của gái làng chơi
Cách hai:  Tiễn : - Tức là cắt tóc thế bồi.
(Trong đó có: - 結髪Kết phát:  Kế kết tóc, xe tóc lừa khách làng chơi)
Cách ba: Thích - Châm, khắc, đâm vào thịt da .
(Trong đó có : Trọng thủ: (Nặng tay). Thích vào người gọi là phép trọng thủ.
Cách bốn: Thiêu - đốt. Khổ nhục kế để lừa khách làng chơi. Các cô điếm chọn mấy huyệt trên người như ở bụng, rốn, đầu đốt huyệt thề nguyện.)
 B...
TRONG KIỀU THƠ (Trich)
Công phu chẩm thượng ai chê, (418)
Thạo thêm bảy cách làm mê mẩn người.
2405- Một là giả khóc lệ rơi.  (419)
Cố lòng níu khách làng chơi về mình.
Làm ra quyến luyến yêu tinh
Làm ra mê đắm si tình keo sơn,
Làm ra có ý mát hờn.
2410- Người ơi, tìm chốn nào hơn người tìm!
Còn bầy tác hí trăm nghìn  (420)
Chỉ trong giây lát, nghĩa tình chi nao.
Nếu khách có ý làm cao,
Tức ta, tức tưởi, lệ trào mà thưa:
2415- “Thiếp nhiều khách lắm đừng ngờ,
Qua đường họ chỉ hững hờ cho vui,
Còn như chia ngọt sẻ bùi,
Đêm ngày thiếp chỉ ngậm ngùi tình lang.”
Kiều rằng: “Khóc lệ khô rang,
2420- Thì con chẳng biết cách làm ra sao?”
Mụ rằng: “Gừng sống bôi vào,
Tự nhiên nước mắt sẽ trào như mưa!
Khách dầu sắt đá trơ trơ,
Cũng mềm như bún sớm trưa lần về!
2425- Hai là vờ cắt tóc thề.  (421)
Đó thần diệu kế làm mê mẩn hồn!
Mềm thì nắn, rắn thì buông,
Lả lơi cho tới sã suồng dính nhau.
Hai bên ý hợp tâm đầu,
2430- Kẻ nào phá bĩnh mưu sâu cũng chào!
Liền tay cắt tóc đổi trao
Xe thành sợi chỉ buộc vào cổ tay.
Ngón đòn kết phát tuyệt hay. (422)
Khách gì cũng phải đắm say bé nhầm!
2435- Ba là chạm, chích, khắc, đâm.  (423)
Dùng khi đôi hát tình thâm đậm đà.
Đây là trọng thủ phép ma. (424)
Nặng tay khoá chặt thân ta, hồn người.
Cổ tay, đùi vế hai nơi,
2440- Thích vào mấy chữ ghi lời tạc xương:
Đại phu trăm quý ngàn thương, (425)
Người chồng chung thuỷ trọn đường thiếp theo.
Khách dù lòng dạ cáo mèo
Vợ con vứt bỏ mà theo với mình!
2445- Sau này thử có khách tình,
Trong khi ân ái sẽ nhìn chữ xăm.
Kiểu gì nó cũng băn khoăn:
“Thằng kia chắc đã trăm năm mặn nồng.
Không tung bạc nén, vàng ròng.
2450- Làm sao mà chiếm được lòng mỹ nhân”.
Nên chi hắn sẽ ân cần
Ra sức chiều chuộng gắn thân với mình.
Hòng mong có lại khối tình
Đắm say hơn kẻ vô hình đã xa.
2455- Thi hành diệu kế bày ra,
Nghẹn ngào kể lại nguyệt hoa những ngày.
“Người xưa, người tốt lắm thay,
Thiếp đây chẳng được một ngày báo ơn”.
Than xong ứa lệ tủi hờn.
2460- Khách nào mà chẳng sạch trơn cửa nhà.
Bốn là lửa chấm thịt da. (426)
Đây là mẹo úm ba la lừa người.
Dại khờ cái bọn làng chơi,
Ngây thơ tin cả những lời vu vơ.
2465- Phải dùng khổ nhục giả vờ, (427)
Để cho chúng phải đợi chờ, ngóng trông.
Ân tình khi đã mặn nồng,
Ra tay bẫy chúng vào vòng giao hoan (428).
                      (còn nữa)
                      Đỗ Hoàng

Dịch thơ Việt ra thơ Việt - Dịch Nguyễn Khoa Điềm (Tiếp theo)


 

DỊCH THƠ VIỆT RA THƠ VIỆT

Nguyễn Khoa Điềm
Nguyên bản:

HOA QUỲ VÀNG

Thông đã mọc nghìn năm
Thành phố trăm năm
Anh đến một ngày
Đà Lạt trẻ
Mà anh thì quá tuổi
Hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa

Hoa quỳ vàng
Ái ngại
Nở chờ anh

Đã sang thu?
Là hạ?
Vẫn là đông?
Không cao thấp
Sao chập chùng

Ẩn hiện
Hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng
Cánh mỏng
Hồn cao nguyên
Nương náu đến bao dung

Em thanh xuân
Anh quá đỗi
Ngại ngùng với sương gió
Đượm buồm từng tấc cỏ
Đà Lạt
Anh có gì
Để nhớ
Sao âm thầm lưu luyến
Tôi muôn xưa

Hoa quỳ vàng
Em chợt đến
Sau mưa
Để chợt héo
Trước ngày đông
Tháng giá
Anh chợt đến
Và chợt về
Xa lạ
Chợt trăm năm
Một khoảnh khắc
Giao mùa
Hoa quỳ vàng
Hoa quỳ nở
Như mưa.
Ngày  22 .1. 1993
.
 Dịch ra thơ Việt:

HOA QUỲ VÀNG

Thông đã nghìn năm
Phố thị trăm năm
Anh đến một ngày
Ơi! Đà Lạt trẻ.
Anh thì quá thể
Mà hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa
Là hoa quỳ vàng
Chút gì ái ngại
Nở chờ anh sang!

Là đã tới thu?
Hay là đang hạ?
Hay vẫn là đông
Mịt mùng sương giá.
Không cao, không thấp
Mà sao vẫn chập chùng!

Mờ mờ ẩn hiện
Ơi, hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng cánh mỏng
Hớp hồn cao nguyên
Chút gì nương náu
Bao dung nhân duyên!

Em mãi thanh xuân
Anh thì quá đỗi
Ngại ngùng sương núi
Tấc có đượm buồm
Đà Lạt tơ vương.

Anh có gì nhớ
Mà sao âm thầm
Mà sao lưu luyến
Tới buồn muôn xưa!

Ơi hoa quỳ vàng
Và em chợt đến
Sau mưa mặn nồng
Và để chợt héo
Tháng giá ngày đông
Và anh chợt đến
V à lại chợt về
Xa lạ buồn không!
Bất chợt trăm năm
Trong một khoảnh khắc
Trời đất giao mùa

Hoa quỳ vàng nở
Rỡ ràng như mưa...

Hà Nội ngày 29 – 1- 2012
Đỗ Hoàng

Dịch thơ Việt ra thơ Việt - Dịch Vô lối Nguyễn Khoa Điềm (tiếp theo)



Dịch thơ Việt ra thơ Việt

Ngyễn Khoa Điềm

Nguyên bản:

NGỒI VỚI CÂY LONG NÃO NHÀ BẠN

Ngồi với tôi mỏi mê
Anh quay vào bếp
Xong nồi lục đục
Mỗi âm thanh dễ nhận ra
Củi – diêm - nước mắm
Và những gì gian khó
Không âm thanh

Tôi một mình
Một nình với cây long não
Cây long não già mà lá trẻ
Như ta giữa cuộc đời này
Cây long não lặng im
Cây long não trịu trần
Năm tháng bên nhau
Nhận lấy phấn bụi bặm
Trả ta hương lành
Và một chút gì sâu xa
Không rõ nữa nữa

Bây giờ cây tiếp chuyện tôi
Gác một chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Những trang chứa biết đến của một người cầm bút...

Bên cầu Phủ Cam, tháng 5 năm 1982

Đỗ Hoàng dịch:

VỚI BẠN

Ngồi với tôi mỏi mê
Anh lại quay vào bếp
Tiếng song nồi, nhôm thép
Âm thanh dễ nhận ra

Nước mắm, muối, diêm, cà...
Vì những gì gian khó
Chắng có một âm thanh!

Còn tôi chỉ một manh
Một mình với long não
Long não già lá trẻ
Như ta cuộc đời này.
Cây long não lặng im
Một thân hình trần trụi
Năm tháng ta bên nhau
Nhận lấy phần bậm bụi
Trả cho ta hương lành
Chút sâu xa vời vợi
Mà không còn rõ nữa.

Bây giờ cây tiếp tôi
Gác chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Trang sách còn viết dở!...

Hà Nội ngày 29- 1 – 2012
Nhà thơ  Đỗ Hoàng

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

Dịch thơ Việt ra thơ Việt (tiếp theo)



Nguyễn Khoa Điềm

Nguyên bản

ANH ĐỢI (*)

Đến sớm một ngày
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh đợi

Đánh đổ một đời
Cuối đất cùng trời
Anh đợi

Anh tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương xanh thẳm
Thương nhớ bồi hồi
Anh đợi

Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều bạc tóc
Thương nhớ lao lung
Một thời trận mạc
Một thời cấy trồng
Anh là hạt thóc
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông

Còn chăng điều tốt
Trong cuộc đời này?
Còn bao nông mặn
Em dành hai ta?
Ngàn năm, trăm năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay
Đường xa để lại
Anh còn ngoái lại
Những lời hôm qua:
          Anh đợi!
Ngày 27 – 9 -2006

Nhà thơ Vũ Quần Phương có bài Đợi
“Anh đứng một giờ
Đất lạ thành quen”
Một sự phát giác từ hiện thực, rất hay, ai cũng biết  nhưng không ai nói được. Bài Anh đợi của Nguyễn Khoa Điềm vô duyên hết chỗ nói. Nó vừa quê, vừa cổ lỗ sỉ, không có phát hiện gì mới, lại dưới cả vè thì độc giả làm sao chấp nhập được!

Đỗ Hoàng Tạm dịch qua vè truyền thống người Việt:

VÈ ANH ĐỢI

Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi.
Đến sớm một ngày
Không thì trời tối.
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh chờ, anh đợi

Anh tìm, tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương sáng tối
Thương nhớ bồi hồi
Anh chờ, anh đợi.

Vở sách trôi nổi
Hai tay bụi trần
Núi cao anh lần
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều tóc rối
Thương nhớ lao lung
Chiến trường lạc lối
Một thời cấy trồng
Anh hạt thóc thối
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông!

Còn chăng điều tốt,
Trong cuốc đời này?
Còn bao nồng mặn
Dành ta, ai hay?
Ngàn năm, ngàn năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay.
Đường xa để lại
Anh ngoái lần này,
Những lời hôm qua!
Vẫn còn chói lọi!
Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi!

Hà Nội ngày 29 – 1 - 2012


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Hoàng Phủ Ngọc Tường xứng đáng giải Nobel!

NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG XỨNG ĐÁNG GIẢI NOBEN (tiếp)

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường dòng dõi trâm anh thế phiệt, con nhà nòi (Tổ là Hoàng Hữu Xướng, Tuần phủ Hà Nội), bản chất thông minh, dĩnh ngộ (giải thưởng học sinh giỏi tốt nghệp cấp 3 – PTTH nay, của Ngô Tổng thống), hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến bậc nhất khu vực (Việt Nam Cộng Hoà) kết hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ cứu nước,
Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành nhà văn, nhà thơ tài hoa hàng đầu cõi Việt với bút lực dồi dào, trác việt ở sự từng trải uyên thâm hiếm có: Bút ký Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên dòng sông, Hoa trái quanh tôi, Hoa hồi xứ Lạng, Hỏi non mượn đá để ngồi, Người ham chơi (Nhàn đàm)..., xứng đáng giải Nô- ben văn chương!
Đỗ Hoàng sưu tầm và giới thiệu
a H p N Tuong
a H p N Tuong
   NHÀ VĂN HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG XỨNG ĐÁNG GIẢI NOBEN (tiếp)
  Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường dòng dõi trâm anh thế phiệt, con nhà nòi (Tổ là Hoàng Hữu Xướng, Tuần phủ Hà Nội), bản chất thông minh, dĩnh ngộ (giải thưởng học sinh giỏi tốt nghệp cấp 3 – PTTH nay,  của Ngô Tổng thống), hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến bậc nhất khu vực (Việt Nam Cộng Hoà) kết hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến ái quốc chống Mỹ cứu nước,
Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành nhà văn, nhà thơ tài hoa hàng đầu cõi Việt với bút lực dồi dào, trác việt ở sự từng trải uyên thâm hiếm có: Bút ký Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên dòng sông, Hoa trái quanh tôi, Hoa hồi xứ Lạng, Hỏi non mượn đá để ngồi, Người ham chơi (Nhàn đàm)..., xứng đáng giải Noben văn chương!

Đỗ Hoàng sưu tầm và giới thiệu


NHẬT KÝ ANNE FRANK
 

   Tôi đã đọc Nhật ký Anne Frank đâu quãng năm 60, trong sách Livre De Poche và cũng hồi đó đã xem cuốn phim mang cùng tên; mấy chục năm qua tưởng như cũng gặp lại Anne trong những phút nản lòng. Và cũng không ngờ, bây giờ tôi đến tận căn giác này của Anne ở số 263 phố Prinsengracht – Amstenrdam nơi Anne đã ẩn náu suốt hai năm trước nạn khủng bố của bọn phát xít chiếm đóng, và đã hoàn tất trên giấy vở học trò cuốn nhật ký nổi tiếng của một cô bé 14 tuổi.
  Tháng 7 – 1942, khi nạn truy sát người Do Thái trở nên hét sức căng thẳng, ông Otto Frank quyết định đưa vợ và hai con gái (Magorrgot và Anne) rút vào sống bí mật trong phần sau của ngôi nhà này, được ngăn cách quầy hàng phía ngoài bằng một kệ sách dùng để nguỵ trang lối đi vào bên trong. Trên tường nơi căn buồng dành cho những người lớn vẫn còn lưu lại tấm bản đồ  vùng Normandie mà ông Otto dùng để theo dõi cuộc tiến quân của quân Đồng minh sau ngày D, cùng những vạch kẻ ghi dấu chiều cao của hai cô bé. Buồng của Anne ở ngay cạnh, trang trí bằng những tấm hình tài tử màn bạc dán trên tường, cùng với chiếc bàn nhỏ Anne vẫn ngồi viết nhật ký. Một thang gồ dẫn lên buồng dành cho gia đình Van Dean, có cái bếp lò dùng chung cho mọi người, ở đó người ta nấu nướng, ăn học, đọc sách và tập thể dục. Anne đã viết về gian buồng này: “Lên khỏi thang gác người ta ngạc nhiên thấy thật nhiều không gian và nhiều ánh sáng trong ngôi nhà cũ kỹ đứng bên một dòng kênh”. Kế bên là buồng của Peter (nhà Van Dean), buổi tối có thể mở hé cửa để được thoáng chút khí. Trên cùng là phòng xép sát mái nhà, với cái vựa cất thực phẩm dự trữ cho tất cả những người đang sống bí mật. Anne rất thích trèo lên nằm thu mình ở gác xép này, đăm đăm nhìn con gà trống trên quả cầu vàng trên  nóc nhà thơ thành phố; vào ngày nắng nó luôn hiện ra chói lọi trên nền trời. Đây là mảnh đất duy nhất của thế giới bên ngoài mà cô bé có thể nhìn thấy, suốt hai năm nằm nép mình chờ chết trong bóng tối mái nhà. Do sự phản bội của một người giúp việc, cuối cùng cái ổ Do Thái tội nghiệp kia bị khám phá và hốt đưa vào trại tập trung. Ông cụ Otto Frank là người duy nhất sống sót sau chiến tranh. Cả Anne và Margot đều đã chết trong trại Bergen – Belsen chỉ vài tuần lễ trước ngày quân Đồng Minh đến giải phóng khu trại. Già Otto trở về lang thang trên những đống ngỗn ngang của ngôi nhà cũ, nhặt lên cuốn vở bìa màu xanh lá cây, chính là cuốn nhật ký của Anne để lại.
  Nhật ký trải qua hai năm sống bí mật, tả lại sinh hoạt hàng ngày của một gia đình Do Thái trong căn buồng làm chỗ ẩn trốn, nỗi cô đơn của một cô bé bị mất hết quan hệ với thế giới và nỗi lo sợ bị người Đức khám phá. Điều cao quý đã tạo nên giảtị nhân  bản hiếm có của cuốn nhật ký, ấy là dù sống mấp mé bên cõi chết, trong tình cảm và ý nghĩ của Anne Frank tuyệt nhiên không hề gợn lên chút thù hận; mà ngược lại, trên từng trang toả sáng một tâm hồn nhân hậu, với hy vọng, yêu thương và nguyện cầu.
 Ở Viện Bảo tàng lịch sử Amsterrdam, tôi chạm phải pho tượng đồ sộ của Goliath, vết sự thờ phụng người khổng lồ những dân tộc Bắc Âu. Ừ nhỉ, từ lúc nào con người thôi sùng bái những người khổng lồ? Với tôi, ấy là vào mùa thu năm 12942 giữa thời bạo liệt nhất của cuộc Thế chiên, một cô bé mảnh khảnh đã tìm tới căn gác mờ tối này, một mình đương đầu với chủ nghĩa phát xít bằng trái tim dịu dàng của mình. Trong tình yêu cỏ non  dành cho Peter, cô chỉ vừa trao cho chàng nụ hôn đầu thì tiếng gót giày của Hitler đã sầm sập kéo tới trước cửa. Anne Frank gắng viết vội dòng chữ cuốí cùng của thiên nhật ký, như một thông điệp của Niềm tin gửi lại cho tuổi trẻ của nhân loại:
 “Dù bao lâu chăng nữa, dù vật đổi sao dời, em vẫn tin rằng con người sẽ hoàn thiện”.
  Tư liệu để lại từ một nhân chứng sống sót trở về, nói rằng ông đã từng gặp Anne trong đoàn người tả tơi đi qua trước sân trại Bgergen – Belsen giữa mùa đông, đôi mắt cô bé xanh biếc lạ lùng trong tuyết.
   Nhật ký của Anne Frank bằng tiếng Hà Lan được công bố lần đầu tiên năm 1947, nay đã in qua hơn 55 ngôn ngữ của loài người (tôi rất buồn không thấy bản dịch tiếng Việt ở đấy, dù in đã khá lâu). Nó được dựng thành phim năm 1959 bởi đạo diễn G. Stevens (tôi đã xem ở rạp Tân Dân, Huế thời đó), diễn viên chính là Shelley Winters (vai Anne Frank) được trao giải Oscar. Đến nay, hàng năm vẫn có nửa triệu người từ khắp Trái đất đến thăm ngôi nhà cũ này, im lặng, thành kính như đi vào một giáo đường.
Sài gòn, 27 – 10 – 1997
H – P – N – T

- Trích trong  Người ham chơi - Nhàn đàm – NXB Thuận Hoá năm 1998