Thứ Năm, 22 tháng 7, 2021

Vô lối Nguyễn Quang Thiêu - Gánh nước sông

 


A A VÔ LỐI NGUYỄN QUANG THIỀU – LẮM LỜI, NHÔM NHOAM, KÉM HIỂU BIẾT…

Đỗ Hoàng

Ltg: Nguyễn Quang Thiều viết toàn tòng “vô lối” từ tập sách “Sự mất ngủ của lửa 1992” cho đến , “Những người đàn bà gánh nước sông 1995”, Những người lính của làng, 1996

Thơ Nguyễn Quang Thiều, 1996

Nhịp điệu châu thổ mới, 1997

Bài ca những con chim đêm, 1999

Thơ tuyển cho thiếu nhi, 2004

Cây ánh sáng, 2009

Châu thổ, 2010,  đều là một loai viết cặn bả, quái thai trong văn chương Việt!

  Trớ trêu thay, nó lại được những người biên soạn tuyển chọn trong 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX và Nhà xuất  Hội Nhà văn in thành sách năm 2007.  Không có nỗi nhục nhà nào bằng cho thi ca nước Việt 4 000 năm đến giờ

 

Nguyên văn:

 

Những người đàn bà gánh nước sông

 Nguyễn Quang Thiều

Tuyển tập chung

- 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)

 

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy

Những người đàn bà xuống gánh nước sông

 

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt

Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi

Bàn tay kia bấu vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi

Những đàn ông mang cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ

Những con cá thiêng quay mặt khóc

Những chiếc phao ngô chết nổi

Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

 

Đã năm năm, mười năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy

Sau những người đàn bà gánh nước sông và lũ trẻ cởi truồng

Chạy theo mẹ và lớn lên

Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến

Con trai lại vác cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ

Và cá thiêng lại quay mặt khóc

Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

Đỗ Hoàng bình giảng:

  Đây là loại bài đặc trưng “vô lối” của Nguyễn Quang Thiều – một cách viết

lắm lời, tù mù, nhạt ý, nhạt tình…vô bổ, kém hiểu biết….. Ngay cái tựa đề đã  rậm lời, phản cảm thiếu tôn trọng những người chân quê. Họ là cô, bác, bà, chị em, mẹ của mình. Đàn bà là từ dùng chỉ phụ nữ nói chung nhưng không được tôn trọng lắm! “Những đàn bà lại càng không tôn trọng, có vẻ khinh miệt! Quê tôi đàn bà goi “lền bà”. Mấy con “lền bà” tỏ ý coi thường. Những người đàn bà trong bài vô lối của Nguyễn Quang Thiều là cô, bác, à, dì, mẹ, chị em của Thiều. Gọi bình thường đã là trịch thượng, viết ra thơ vô lối thì càng hỗn láo hơn!

 Câu tiếp: “Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái”. Sự thật những cô, bà, bác, mẹ, chị em ở quê nghèo lam lũ ở đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ, một số người Giao chỉ đều như thế thật. Họ cơ cực quá. Chinh chiến liên miên. Đói kém chồng chất. Họ đen đúa, những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe như chân gà mái là có thật,  nhưng có nói và viết ra như thế không?  Cha ông nói: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”, “Rách rưới đậy vào trong, lành lặn đư ra ngoài… cơ mà. Ai đem cái xấu bêu rếu giữa cộng đồng con người, huống hồ cái chưa đẹp đây là những người thân của mình! Có nhà thơ nào trên thế gian này lại đi làm việc đó?  Người dưng, nước lã mà còn “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Huống hồ đây là người thân mà chụp cái lỗ đít của họ đưa lên bàn thơ!

  Câu tiếp: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy”. Câu này chứng tỏ tác giả kiến thức cơ bản phổ thông rất kém chưa nói nghệ thuật “ thôi xao - 推敲” thơ phú! Anh đã kể: “ đã năm năm, mười nnăm” thì phải kể ba năm, bốn năm; đã kể ba năm bốn năm thì phải kể: một năm, hai năm…Kể bao giờ mới hết!! Nhà thơ không được phép dốt toán. Câu kể này trong toán học gọi là phép “quy nạp không hoàn toàn”. Anh chỉ cần viết” nửa đời tôi thấy “ là đủ rồi, tron nghĩa rồi. Viết thế lược bao nhiêu chữ  thừa. Lược được 10 chữ thừa: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và”. Câu vô lối của anh ném xuống ao, ao sẽ thối inh, cá phải chết!.Chứng tỏ tác giả rất kếm kiến thức phổ thông, kiến thức cuộc sống.

Hai câu sau là hai câu văn xuôi rất dở:

“Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt

Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi”

  Đoạn tiếp: “Những đàn ông mang cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ

Những con cá thiêng quay mặt khóc

Những chiếc phao ngô chết nổi

Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi”

   Sao lại có nhiều đàn ông mang cần câu và giận dữ bỏ đi như thế? Lặp đi lặp lại chẳng nói được gì. Tù mù! Và con cá thiêng ở đâu lại quay mặt khóc? Vận may, cơ hội gì mà đón lỏng, chờ đợi đến thế. Quá hơn đánh đố.

« Cái chi lừng lựng giữa già (nhà)

Hễ ai đụng đến thì òa khóc lên ! (Cối xay thóc)

 Cối xay thóc vì có ai đụng đến. Cá thiêng của Nguyễn Quang Thiều khóc chẳng có ma nào sờ ! Nguyễn Quang Thiều « nổi tiếng » nhà vô lối khóc học «  là vì thế !

    Đoạn này là đoạn rất tù mù , không biết tác giả nói gì? Cái làng gánh nước sông, không có đến một cái giếng ăn ở bài Vô lối này như một làng trong “ Thủy Hử”. Làng của đám giang hồ, thảo khấu rình rập, tan nát dưới chế độ phong kiến Tàu suy tàn!

大河向流啊

天上的星星参北斗哇

咳咳参北斗哇

生死之交一碗酒哇

(不分贵贱一碗酒哇)

走咱就走啊

你有我有全都有哇

咳咳全都有哇

水里火里不回

(一路看天不低)

不平一声吼哇

出手就出手哇

风风火火九州哇

出手就出手哇

风风火火九州哇

呀依儿呀 依儿呀

呀依儿呀 依儿呀

 

Đỗ Hoàng dịch nghĩa ra tiếng Việt: Bài ca người giỏi

 

Ɲhững sông lớn đều chảу về hướng đông

Các ngôi sao trên trời đều hướngvề Ɓắc Đầu*

Tất cả hướng  về Ɓắc Đầu

Một bầu rượu chia ly giữa sống chết của cuộc đời!

(Có một bầu rượu rồi chẳng phân cao sang)

 

Ɲói là đi thì chúng ta sẽ đi

Anh có tôi có chúng ta đều có

Toàn bộ đều có

 

Trong lửa, trong nước đều không quaу đầu lại

(Trên đường hãy nhìn lên trời chẳng cúi đầu)

Trên đường thấy chuуện bất bình hô một tiếng

Gặp lúc ra taу phải ra taу

Gió lửa mấy cũng xông pha chín châu

Gặp lúc ra taу phải ra taу

Gió lửa mấy lửa cũng xông pha chín châu

Xin chào!

Xin chào!

 

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt

 

BÀI CA NGƯỜI GIỎI

 

Rát nhiều dòng sông cực lớn

Đều chảy về một hường đằng đông.

Ngàn sao ở trên bầu không

Hướng về Bắc Đẩu cầu vồng tinh hoa.

 

Một bầu rượu hai pha sống chết

Bầu rượu không phân biệt cao sang

Bảo đi, chúng ta sẵn sàng

Anh tôi cùng có lên đàng, có nhau!

 

Trong lửa nước dãi dầu không ngại,

Nhìn lên trời ngẩng mãi đầu lên

Trên đường gặp chuyện đảo điên

Hô to một tiếng ta liền ra tay!

 

Gió lửa mấy dạn dày xung trận

Sức xông pha đến tận chín châu

Gió lửa mấy vẫn đi đầu

Chín châu bão nổi địa cầu xông pha

 

Xin chào a!

Xin chào a!

 Hà Nội 7 – 2021

   Đ - H

 

Đoạn gần cuối này tương đối có ý nhưng diễn đạt rối rắm, rất văn xuôi. Cảm giác xơ cứng. Người viết lạnh lùng, không một chút tình:

  “ Sau những người đàn bà gánh nước sông và lũ trẻ cởi truồng

Chạy theo mẹ và lớn lên

Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến

Con trai lại vác cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ”

Dịch ra nó thơ Việt thì hay hơn nhiều:

…“Nửa đời trải thấm buồn tôi thấy

Bầy trẻ thơ níu váy u già

Lớn lên giữa chốn bùn sa

Gái thay mẹ gánh nghèo qua bến thuyền!”… 

    Đỗ Hoàng dịch

  Đoạn kết bài vô lối này lặp lại và hỏng!

“Con trai lại vác cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ

Và cá thiêng lại quay mặt khóc

Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.”

  Nguyễn Quang Thiều một bài “Vô lối” hỏng, cả một đời làm “Vô lối” cũng hỏng. Thực là:

“Vô lối Thiều đã thành đại bại

Hết một đời tay trắng tài trai!”

     Nội ngày 23 – 7 -2021

       Đ - H

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt:

 

LÀNG NGHÈO BÊN SÔNG

 

Bàn chân bấm bờ sông mềm mại,

Cả nửa đời thơ dại tôi trông

Cô, bà xuống gánh nước sông 

Mái tóc vỡ xôi bềnh bồng trên lưng!

 

Tay vịn giữa nửa chừng đòn gánh,

Tay vịn vào mây trắng như  

Sông trôi úp mặt vào bờ

Trai mang mơ biển lặng tờ ra đi!

 

Cá thiêng khóc rầu ri quạnh quẻ

Chiếc phao ngô cố lẻ chết rồi

Đàn ông giận dữ ôi thôi

Nuốt sầu ngao ngán trốn đời đi luôn !

 

Nửa đời trãi thấm buồn tôi thấy

Bầy trẻ thơ níu váy u già

Lớn lên giữa chốn bùn sa

Gái thay mẹ gánh nghèo qua bến thuyền !

 

Hà Nội quảng 10 năm trước

              Đ - H

 

Đón đọc : Bài vô lối « Bài hát cố hương »

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2021

Mập mờ Bi thư Nguyễn Thư Thoan

 

MẬP MỜ BÍ THƯ NGUYỄN TƯ THOAN - NHÀ VĂN ĐỖ HOÀNGÀNG

Ngay bây giờ thời mở cửa dân chủ nhưng những việc trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam những người có cấp sắc bình thường trong Đảng còn không biết được huống gì những người không đảng phái những người ngoài Đảng. Vừa rồi có ông quan thượng đẳng về vườn nghe thiên hạ đồn thổi nhiều chuyện song chẳng biết đâu là sự thật. Sá gì chuyện Nguyễn Tư Thoan một chính trị gia cấp tỉnh bị hồi hưu cách đây gần nửa thế kỷ! 

Ông Nguyễn Tư Thoan làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình từ những năm 1961 đến năm 1974 hơn 13 năm ròng rã đi suốt cuộc chiến tranh chống máy bay phá hoại của giặc Mỹ. Một nhiệm kỳ dài so với các đời Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình sau này. Ông ta là một chính trị gia cấp tỉnh thuộc loại giỏi. Phong trào Quảng trào Quảng Bình hai giỏi (sản xuất giỏi chiến đấu giỏi) do ông phát động đề xướng và đốc chiến thực hành thành công. Ông đã dựng được ngọn cờ nông nghiệp Hợp tác xã Đại Phong đứng đầu miền Bắc thời ấy cũng là một kỳ tích.


Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ VI người ta bầu ông Cổ Kim Thành làm Bí thư còn ông Thoan được điều ra Hà Nội làm chuyên viên 6 thuộc Bộ Nông nghiệp. Thời ấy những người dân Quảng Bình nghe đồn đại Nguyễn Tư Thoan làm gián điệp cho Mỹ nguỵ chuồn sâu leo cao để cướp chính quyền bị bắt đi tù rồi. Đến bây giờ mọi người cũng chỉ biết vậy. Ai cũng tin thế là đúng. Bởi vì có những tên luồn sâu leo cao to gấp mấy lần Nguyễn Tư Thoan mà cũng bị hạ bệ bị đi tù ông Thoan ăn nhằm gì!

Hồi Báo Dân (Bình Trị Thiên) tôi hay được nghe anh Phan Văn Khuyến Phó tổng Biên tập báo một thời làm báo Quảng Bình kể về Nguyễn tư Thoan với sự cảm phục. Anh không nói gì về đời tư chỉ kể rằng Nguyễn Tư Thoan đi đầu gương mẫu không sợ khó khăn gian khổ máy bay bắn phá nhưng vẫn cầm đuốc sợ khó khăn gian khổ máy bay bắn phá nhưng vẫn cầm đuốc xông lên hàng trước để hàng vạn quần chúng theo sau. Vì báo Đảng gần cận với Bí thư Tỉnh uỷ nên anh Khuyến cũng được nhiều lần nghe Nguyễn Tư Thoan tâm sự. Anh Khuyễn kể: - Ông Thoan nói: - Mình cũng da thịt như mọi người mình cũng sợ bom đạn nhưng Bí thư mạơ bom đạn thì hô hào quần chúng sao được nhất là những người thuộc cấp. Mình phải lên gân cốt cho họ noí họ mới nghe làm họ mới phục! Trong chiến đấu ông rất gương mẫu dũng cảm trong sản xuất ông Thoan cũng rất quyết đoán. Đồng ruộng Quảng Trạch không có nước quanh năm hạn hán ông dẫn tất cả cán bộ của Ty Thuỷ lợi Quảng Bình lên Rào Nan chọn đoạn sông hẹp nhất ra lệnh đổ đất đá ngăn đập lấy nước tưới ruộng. Kỹ sư thuỷ lợi Trưởng Ty Thuỷ lợi xanh mắt mèo không dám can ngăn Bí thư tỉnh uỷ. Tất cả phải tuân lệnh. Thế mà đến hôm nay đập vẫn vững chắc đồng ruộng Quảng Trạch luôn luôn có nước tưới dân muôn năm ấm no. Anh Phan Văn Khuyến đã viết hẳn một bài báo dài in trên báo Văn nghệ trong năm (2010) khen ngợi Bí thư Nguyễn Tư Thoan đề nghị phong thưởng công trạng lập đền thờ cho ông!

Một lần viết lịch sử giao thông Việt Nam tôi được cử vào viết lịch sử giao thông Quảng Bình. Tôi làm việc với ông Lại Văn Ly nguyên Trưởng ty giao thông Quảng Bình Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Bình trong những năm ông Thoan làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Sau công việc rổi rải tôi hỏi ông:

•- Nguyễn Tư Thoan có phải giản điệp cài cắm leo cao

không anh?

Ông Lại Văn Ly trả lời nghiêm túc:

•- Không phải anh ạ. Ông ta có thời đi làm cảnh sát (phòng

nhì - mật thám) của Pháp. Sau khi Nhật nhảy vào Đông Dương Pháp thua ông ta đi làm cảnh sát của Nhật. Hai việc này ông ta không khai trong lý lịch.

•- Thế là hạ tầng công tác? - Tôi hỏi

•- Đúng thế! - Ông Ly trả lời.

•- Trong thời gian ông Thoan làm Bí thư có sai phạm gì

không? - Tôi tiếp

•- Không! Rất quyết đoán năng động thông minh nhưng độc

đoán quyền hành nên cấp dưới không thích - Ông Ly cho biết

thêm.

Việc phát hiện hai chuyện trên thwo dân gian là như thế

này.

Một lần ông Nguyễn Tư Thoan ra dự đại hội Đảng ngồi trên ghế Chủ tịch đoàn. Ở dưới có đại biểu người trong Nam từng bị ông tra tấn giam cầm thời ông làm mật thám Pháp phát hiện ra.

Ông ta liền làm việc với với tổ chức Đảng và biết đúng kẻ tra tấn ông ta là Nguyễn Tử Thoan (sau đổi ra Tư) đang đương chức Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình.

Mới gần đây khi viết hồi ký cho ông Mai Văn Bộ nguyên cán bộ Uỷ ban Kiêm tra Đảng Trung ương tôi có hỏi chuyện ông

Thoan Ông Bộ cho biết thêm: - Khi ông Thoan ra làm chuyên viên Bộ Nông nghiệp có mấy lần đến gửi khiếu nại lên UBKT Đảng. Ông Bộ thụ lý việc ông Thoan (Ông Bộ thời trước chống Pháp đã làm đến Bí thư huyện uỷ một huyện ở Thanh Hoá) khuyên ông Thoan: - Đảng cho anh về hưu sớm là được rồi anh vẫn là lão thành Cách mạng. Anh kiện nữa là anh mất sạch. Ông Thoan im lặng ra về. Ở đời người phò thịnh chứ không ai phò suy. Thời ông Thoan nhiều kẻ xu nịnh tâng bốc ngay văn nghệ Quảng Bình nhiều số cũng in thơ ông. Ông gửi bài gì cũng in viết chưa hay thì có biên tập sửa chữa lại cho đăng. Tôi nhớ ông Thoan có viết: " Tôi tưởng vần thơ tôi đã cạn/ Tám tháng rồi tôi lại làm thơ/ Để ca ngợi quê hương Quảng Bình mình đẹp lắm/ Đẹp từ mỗi tên làng tên núi tên sông" Con ông lấy gái đẹp đã đành cháu ông cứ họ Nguyễn Tử là không một cô gái làng nào từ chối mà còn tình nguyện hiến dâng  nữa. Đúng là một người làm quan cả họ được nhờ. Thời ông đương chức ông về làng Hoa Thuỷ thuộc huyện Lệ Thuỷ quê ông cho xây mộ bố mẹ to đùng to đoàng gấp nhiều lần cái trụ sở Tỉnh uỷ sơ tán. rồi ông đề vào bia mộ "Đời đời nhớ ơn công lao cha mẹ".

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

Bây giờ là lúc.... Nguyễn Khoa Điềm

 

Bây giờ là lúc … bài Vô lối của Nguyễn Khoa Điềm, phi thơ ca, đầy cay cú, ấm ức, hậm hực, nguyền rủa…

Đỗ Hoàng



 

  Từ khi bị mất chức vì ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo tố cáo Nguyễn Khoa Điềm không phải đảng viên, trong tù khai báo với địch, bị chi bộ nhà tù lao Thừa Phủ - Huế cô lập, Nguyễn Khoa Điềm bị bãi chức buộc về hưu sớm, ông luôn viết ra những cái gọi là thơ nhưng thực chất nó chỉ là thứ Vô lối, nói vo, nói lấy được thể hiện một tâm tạng bực bội, đầy cay cú, ấm ức, hậm hực vì mất chức, mất quyền mất hết bổng lộc, vàng ròng mà vơ vét chưa thỏa tấm lòng.

  Nhiều kẻ tấng bốc các bài viết vô lối ấy của ông, coi ông là nhà thơ đứng về phía nhân dân dám lên án bạo quyền và cường q     uyền đương đại, hy vọng tôn ông, đưa ông lên làm ngọn cờ đầu làm quốc trưởng cho một thể chế chính trị mới thay chính thể Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài toàn trị, đảng trị, đang cầm quyền.

  Thật ra con người chính trị của Nguyễn Khoa Điềm là con người đầy tham vọng và lắm cơ mưu, gian lận, táng tận lương tâm, tùy thời, theo thời, chờ thời…. Một con người thiếu trung nghĩa trong lập thân, luôn hãnh tiến.  Phàm là quan, nếu có non chỗ này, yếu chỗ kia… tất có thể lượng tình mà bỏ qua được. Nhưng thiếu đức trung nghĩa thì thiên hạ chưa từng dễ dãi mà tha thứ cho ai bao giờ. Bất lương, láu cá. bội tín… đều bị lên án (Hàn Phi Tử)

  Trong thể chế chính trị Đảng Lao động Việt Nam cầm quyền trước đây và Đảng Cộng sản Việt Nam toàn trị, đảng trị bây giờ, họ rất khắt khe  và điều tra kỹ lý lịch, coi trọng lý lịch hơn tài, đức.. Ngày từ tuổi mầm non mẫu giáo, cấp một, ấu trò đã bắt buộc khai thật đúng, thật rõ ràng về lý lịch, nếu khai gian, man khai thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Thế mà Nguyễn Khoa Điềm không đảng viên vẫn khai mình là đảng viên thì đúng là gan cóc tía, coi trời bằng chai! Để luồn sâu, leo cao (Theo đơn tố cáo của Nguyễn Đức Đạo – Thư viết tay – Bản pho to) lên hàng nhất phẩm (Ủy viên Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam - Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa) thì đủ biết Nguyễn Khoa Điềm gian hùng ngang tầm cỡ Tào Tháo ngụy bên Tàu. Nếu không bị phát giác, ông ta sẽ lên tận đế vương nước Việt!

  Vì tham vọng quá lớn, nên khi bị đứt gánh giữa chừng, Nguyễn Khoa Điềm đau hơn hoạn và tỏ ra cay cú, hằn học, oán trách, làm mình làm mẩy, giận mất khôn, viết ra những thứ Vô lối phản lại ý chí lý tưởng ông phụng thờ, ông theo trước đây, làm tổn hại đến uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam.

  Bài vô lối Bây giờ là lúc… là một trong những bài như thế.

    Trước hết nó không phải là thơ. Nó là loại Vô lối đang thịnh hành hôm nay ở nước Việt mà nhiều kẻ đưa lên mây xanh là thơ hậu hiện đại, hậu hậu hiện đại…

  Riêng cái tựa đề của nó không ổn chút nào. Bây giờ là lúc đặt tựa đề không rõ ràng, tựa đề biểu tượng không chỉ hai mặt mà là biểu tượng nhiều mặt. Sao một nhà thơ nồi tiếng, quyền cao chức trọng như Nguyễn Khoa Điềm mà đặt tựa đề bải viết của mình bằng biểu tượng hai mặt và nhiều mặt như thế?

 Bây giờ là lúc, gió gọi anh đi, bây giờ là lúc cho anh làm mới cuộc đời mình, bây giờ là lúc ăn ngủ với bụi đường như Nguyễn Khoa Điềm viết.    Nhưng bây giờ là lúc lật đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Có người có quyền hiểu như vậy! Và vân …vân…vân…

  Một ông quan to, trùm tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam sao lại ởm ờ như thế được?

  Những khẩu hiệu, chính luận, thơ ca… ông viết hoặc ông duyệt trước đây đều rõ ràng rành mạch, sao bây giờ ông lại chơi hỏa mù con cúi!

Xin xem Nguyễn Khoa Điềm vào bài:

Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cá vi dít, nắm đấm mi crô

…..

Từ giã cà vạt, giày đen lời trịnh trọng

    Com lê, cà vạt, micro, điện thoại, ti vi, truyền thanh, internet, dcom 3g …là của nhân loại sáng tạo ra để nhân loại dùng. Nó đâu là thứ chỉ Đảng Cộng sản Việt Nam dùng. Người ăn xin ăn mày,vẫn dùng cơ mà. Đảng Cộng sản Việt Nam làm gì mà tạo ra được các sản phẩm ấy mà Nguyễn Khoa Điềm làm mình làm mẩy như của nhà mình.

 Nguyễn Khoa Điềm lại viết tiếp những câu vô lối rất bui bậm, tục tởm…

Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ

Hò hét một mình, đọc những gì mình yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép

  Những nhà văn, nhà thơ tai tiếng với những kiểu viết bụi bẩn, ô trọc, bôi nhọ con người như Nguyễn Quang Lập, Tạ Văn Sỹ còn không dám hò hét toáng lên lên như Nguyễn Khoa Điềm, không dám cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ, với gái điếm như thế.

 Tạ Văn Sỹ bụi bẩn nhất, ô trọc nhất mà mới dám viết cho cô điếm làm tình với mình trong một đêm rồi chia tay:

Chia tay không hẹn không hò

Anh em không phải đợi đò, đợi sông

Cầu cho em mãi má hồng

Để êm đi hết phiêu bồng gió đưa.

   

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

    Nó còn trong sáng hơn nhiều.

 Bình phong tuy bại, cốt cách do tồn (Bình phong tuy đổ rồi nhưng dáng dấp thanh cao của nó vẫn còn mãi). Nguyễn Quang Lập, Tạ Văn Sỹ có thể viết bẩn, bôi bẩn con người, nhưng Nguyễn Khoa Điềm không thể cho phép viết như vậy.

  Cũng như ông Tú Xương, một ông tú tài có thể viết:

Vị Xuyên có Tú Xương

Dở dở lại ương ương

Cao lâu thương ăn quỵt

Thổ đĩ lại chơi lường!

 Nhưng Nguyễn Khuyến đại quan, cụ không bao giờ viết như thế. Đến say cụ cũng chỉ thế này :

Rượu tiếng rằng hay, hay chửa mấy

Độ dăm ba chén đã say nhè!

  Chung quy do lòng tham của Nguyễn Khoa Điềm quá lớn, tham quyền lực:

Anh mải mê trên đường hoạn lộ

(Cõi lặng)

Tìm mọi cách để đạt được dù có luồn háng như Hạng Vũ:

Nhiều lúc đá dạy ta phải mềm

(Hy vọng – Cõi lặng)

Miếng ăn là miềng tồi tan

Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu

(Ca dao)

    Đất đai thước đất thước vàng ở Hồ Tây, lầu đài biệt thự ở Đội Cấn, ở Vỹ Dạ - Huế, tiền lại quả của phe nhóm, tiền chia chác dự án phần trăm hậu hỹ, tiền sửa lăng tẩm… nó làm sôi lên lòng tham của Nguyễn Khoa Điềm. Giá như làm tiếp một vài nhiệm kỳ Bộ Chính trrij Đảng Cộng sản Việt Nam, ông. sẽ có lâu đài, đất đai ở Pari, Lon don, Oansinton, Tokyo, Mặt Trăng, Sao Hỏa…thì hay biết mấy! Tiếc thật! Mã cha thằng cậu ruột vợ!

    Lợi lộc tham nhũng nhiều như vậy, nên vì thế mà Nguyễn Khoa Điềm không biết hay cố quên lời cổ nhân đã dạy:

Đa tàng tất hậu vong

Tri túc tất bất nhục

Tri chỉ dĩ bất đãi

Khả dĩ trường cửu

(Lão Tử)

Tham nhiều chắc sẽ mất

Biết nhiều ắt sáng ngời

Biết dừng thì thanh sạch

Còn mãi với muôn đời!

(Đỗ Hoàng dịch thơ)

Hay:

Kẻ nào đam mê quyền lực

Sẽ làm hỏng đôi cánh cuộc đời

Kẻ nào luôn hy sinh hạnh phúc

Sẽ rạng rỡ dưới ánh sáng mặt trời

(Villiam Blake  - Tạng Thư – Đỗ Hoàng dịch thơ)

Và khi mất chức đi thì Nguyễn Khoa Điềm điên lên, phát ngôn bừa bãi, ác ngữ:

Anh tham chiến trận tấn công cuối cùng

Vào cái chết

 

Hãy lột ngược da anh

Và ghi lên đó mật khẩu:

- Không lùi bước

 Nguyễn Khoa Điềm sẽ tự mình tự chết trong tiếc nuối, tham sân si. Những thứVô lối của ông viết ra không mảy may xúc động được ai, nó không có một chút gì là văn chương nghệ thuật, nó chết như cuộc đời của ông.

 

Hà Nội, ngày 22 – tháng 8 năm 2013

Đ -H

Nguyên bản:

BÂY GIỜ LÀ LÚC

Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cá vi dít, nắm đấm mi crô

Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường

Một mình một ba lô với xe đạp

Bây giờ gió gọi anh đi

Mặt trời đánh nhịp về tám hướng

Từ giã cà vạt, giày đen lời trịnh trọng

Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ

Hò hét một mình, đọc những gì mình yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép

Thế giới thật rộng, những ngã đường độ lượng

Cho anh làm mới cuộc đời mình.

Anh gọi đó là chuyến về không hạn định

Để làm một người trong mọi người

Anh tham chiến trận tấn công cuối cùng

Vào cái chết

 

Hãy lột ngược da anh

Và ghi lên đó mật khẩu:

- Không lùi bước

( Bài in trên báo Văn nghệ khoảng năm 2007) In trong tập “Vô lối”Cõi lặng năm 2010.

 

 

BÂY GIỜ LÀ LÚC

 (Có thể viết như thế này):

Bây giờ là lúc

Chúng ta phải thay đổi chính thế này.

Bới vì Đảng Cộng sản Việt Nam chuyên quyền, toàn trị, đảng trị, độc ác.

Ta ở trên ngôi cao nhất

Ta biết

Hỡi quốc dân, đồng bào

Ai có súng dùng súng

Ai có dao dùng dao

Em Cu Tai, cu Tang

Chị Hơ ve, Hơ Chang,

Anh Hồ Vai, Hồ Vạ

Chị bán cá Vỹ Dạ,

Chị bán tôm chợ Đầm

Anh câu mực Quảng Điền

Anh ăn trộm khách sạn

Ông ở Cửa Ngăn cưa ván

Cô nấu rượu làng Chuồn

Ả án vải đi buôn…

Em làm đĩ Phu Văn Lâu

Kẻ cướp tàu

Kẻ cướp chợ

Các anh chị em ơi

Hãy theo tôi

 

Bây giờ là lúc

Tôi sẽ từ giã xà - rông, xà - riêng không đóng khố cởi trần

Tôi sẽ mặc com lê, ghi lê, cài cà vạt, đi giày đinh, cầm micrro – ông nói – nắm đấm tuyên bố những lời vô cùng trịnh trọng

Tổ quốc ta muốn sống hay là chết?

Trước bọn vương quyền bán hết đất, hết biển, hết trời

Trước bọn vương quyền – nhưng con sâu nguy hại hơn đại tướng của giặc, chuyên làm giàu trên máu nước mắt mồ hôi

Dân chúng.

Tôi chỉ là chức cờ đèn kèn trống, chức rẻ rúng mà phần chia chác dự nhiều vô thiên lủng

Vàng đếm không xuể

Huống gì chúng coi về kinh tế

Chúng ăn ba vạn tám nghìn đời không hết bạc vàng.

 

Bây giờ là lúc

Hỡi 100 triệu quốc dân đồng bào hãy đứng về một phía

Không phân biết Kinh, Tày, Khơ me, đỏ hồng hay tía…

Hãy theo tôi

Quyết một lời

Cách mạng lại!

 

Bây giờ là lúc

Đất nước thực hành quyền dân chủ, tự do

Tự do hội họp

Tự do lập nghiệp đoàn

Tự do đảng phải

Đất nước đa nguyên

Chính trị phải đa đảng

Tự do báo chí

Tự do

Tự do

Dân chủ

Và dân chủ…

Bây giờ là lúc

Quân đội và công an

Không tham gia đảng phái

Quân đội và công an

Chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân

Không cầm súng bảo vệ bọn buôn thần bán thánh

Gác cửa hầu theo (hotel) – khách sạn cho chúng nó chơi gái.

 

Bây giờ là lúc

Và mãi mãi

Tôi đây được bầu làm Quốc trưởng

Tôi sẽ nguyện suột đời vì dân vì nước

Chiến đầu đến hơi thở cuối cùng.

Không lùi bước!

Xin hết.

 

 

Xin tham khảo bài viết tôi đã viết cách đây 3 năm:

 

 

     Đây là bài Vô lối một trong rất nhiều bài Vô lối của Nguyễn Khoa Điềm mang một sự hằn học, cáu gắt giận dữ vì bị mất chức, mất quyền, mất bỗng lộc mà viết ẩu, viết lung tung, viết sai cơ bản làm tổn hại đến tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, đến cộng đồng, nhân quần, thành quả lao động, sáng tạo của nhân loại từ nghìn đời nay. Đọc Nguyễn Khoa Điềm cũng như đọc những người cùng thời viết với ông, tôi bao giờ cũng nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà thơ Nga tài danh Nhê ca rê xốp: “Làm tròn bổn phận của người công dân thì rất đau khổ cho con người nghệ sỹ”. Bao nhiêu vạn cây bút công nông binh Nga trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất có công đóng góp cùng với dân tộc giải phóng nước Nga ra khỏi chế độ Sa Hoàng nhưng thơ ca của họ không còn gì cả. Thơ ca và Vô lối của Nguyễn Khoa Điềm cũng không có giá trị gì về mặt nghệ thuật, tư tưởng. Tử tưởng giải phóng Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm là tư tưởng đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, các cây bút chỉ viết theo mệnh lệnh. Nếu đọc lại những bài chưởi Mỹ, chưởi nguỵ của ông thì thấy nó không có sức thuyết phục, không nói là kiểu chưởi hàng tôm, hàng cá. Ta không thích mà địch thì không đau. Như: Mỹ và những đĩ, những xnách ba (Lính Mỹ, khẩu súng và chiếc kèn đồng) Quay lại với bài Vô lối – Bây giờ là lúc

Ngay cái tựa đề đã là không ổn - Bây giờ lúc như thế nào? Lúc làm lại cách mạng hay là lúc thay đổi chính thể hay là lúc xoá hết kỷ cương phép nước, xoá hết công lao dân tộc? Hay là lúc chưởi đổng? Nguyễn Khoa Điềm nói chia tay với điện thoại để bàn, các vi dít, nắm đấm mỉcô, từ giả comlê, cà vạt, giày đen… là vô cùng sai trái. Đấy là công lao của loài người trải qua hàng nghìn đới sáng tạo phát minh ra. Không chỉ quan chức dùng mà tầng lớp nào trong xã hội cũng dùng đến. Một thảo dân cũng không ai nói thế và cũng không phải việc gì chia tay. Người bình thường vẫn dùng điện thoại để bàn, micrô và các vi dít. Bây giờ nhiều cô bán rau, bán thịt lợn, bán hoa còn dùng cả điện thoại di động 3G thì sao. Đám cưới người ăn mày, ăn xin dùng micrô không dây nữa kia mà. Tại sao Nguyễn Khoa Điềm hợm hĩnh, làm mình làm mẩy chia tay sản phẩm tiện dụng của loài người phát minh, sáng tạo ra! Taị sao bực tức gọi chiếc micro sao là nắm đấm của võ sư được nhỉ? Chiếc micro với hình ảnh Bác Hồ khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bất tử đó sao! “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (Một lời nói ra bốn ngựa đuổi không kịp). Đây rõ ràng là khẩu khí của kẻ tiểu nhân. Tiếp đến các câu 2 câu 3 câu 4 … và hết bài là vô cùng phương hại đến tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, đến nhân dân lao động, đến đồng nghiệp, đồng đội của mình. Cổ nhân nói: “Bình phong tuy bại, cốt cách do tồn” (Bức bình phong có đổ nát nhưng dáng vẻ của nó vẫn uy nghi còn mãi). Trong cuộc sống hiện tại của đất nước ta ngay cả người bị tù trong các trại cải tạo vẫn được lên mạng chứ gì một người giữ trọng trách cao nhất về tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Khoa Điềm, một ông quan đạt đến đỉnh chung mà để đến mất chức mới tự do lên mạng. Người cấm mạng chính là Nguyễn Khoa Điềm ký cấm chứ ai cấm! Rõ ràng ông bôi nhọ cái cơ quan mà ông quan lý nó bao nhiêu năm nay. Nguyễn Khoa Điềm dùng những chữ rất bụi đời mà nhiều người viết bụi như Phương Xích lô ở Huế, như Tạ Văn Sỹ ở Kon Tum cũng không dám viết. Nào là anh ăn ngủ với bụi đường, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ, hò hét một mình… Đọc câu nào thấy Nguyễn Khoa Điềm viết cũng sai và có tính chất bôi nhọ Ban Tư tưởng – Văn hoá của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thời ông làm Trưởng ban hàm Uỷ viên Bộ Chính trị. Như: - Rồi đọc những gì mình thích/ Ghi chép những gì mình cần ghi chép…Mình ra thế giới thật rộng, những ngã đường độ lượng…Cho anh làm mới cuộc đời mình. Hoá ra Ban Tư tưởng Văn hoá cẩm mọi người đọc, cấm mọi người ghi chép, cấm hò, cấm hát. Trong Ban Tư tưởng - Văn hoá là một thế giới chật hẹp, cũ kỹ muôn năm… sao? Ba câu kết thật rùng rợn và vô nhân đạo. ..."Hãy lột ngược da anh/ Và ghi lên đó mật khẩu: / -Không lùi bước" Một kiểu nói thách thức. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm chiến tranh nhưng không làm hại kẻ đã qui hàng” Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người trở lại”, đến quân thù vẫn cấp cho 5000 xe ngưa, mấy trăm tàu thuyền về nước (Nguyễn Trãi – Bình Ngô đại cáo), không ai lột da kẻ thù, huống gì người cùng với cộng đồng da vàng, máu đỏ. Nguyễn Khoa Điềm dù chỉ là một công dân bình thường cũng không được viết những dòng vô lối như trên. Hội Nhà văn Việt Nam đã rất sáng suốt không tặng giải thưởng cho tập Vô lối Cõi lặng.

Hà Nội ngày 20 – 6 – 2010

Đỗ Hoàng

 

Nguyễn Hiếu vịnh

 


Ltg: Có nhiều nhà văn loại  xu viết đủ thứ trên đời: văn, thơ, kịch, chèo, tuồng, tấu hài…nên quanh năm đi trại viết! (Trại sáng tác văn học trong thể chế Cộng sản). Nguyễn Hiếu là loại như vây.

Nguyễn Hiếu vịnh

Ăn cơm trại viết đỡ cơm nhà.

Nguyễn Hiếu đã mần mấy kỷ qua.

Đại Lãi, Vũng Tàu…dều có mặt,

Nha Trang, Tam Đảo…thảy tham gia!

Trang văn vội vã đưa trên duyệt,

Đoạn báo sơ sài gửi dưới tra!

Mãn trại in thành sách chất lớp.

Nhiều năm nên đống bốc phân gà!

   Hà Nội 7 – năm 2021

              Đ - H

 

 

 

 

Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

Hội Nhà văn Việt Nam ủng hộ thơ Vô lối! (2)

 

BAN LÃNH ĐẠO HỘI NHÀ VĂN KHÓA MỚI (khóa X) ÚNG HỘ CHO THƠ VÔ LỐI

Thứ sáu - 16/07/2021 16:03
Như đã nói các bài viết trước, lần này tôi (Đỗ Hoàng) xin trích dẫn những cây viêt “vô lối” gia truyền mà Văn nghệ bộ mới, số 1 tâng bốc!
Ly Hoàng Ly in 6 bài, có chân dung, Văn Giá 3 bài, Hoàng Thụy Anh 3 bài, Lâm Huy Nhuậm 3 bài . Trừ Lâm Huy Nhuạn viết ba bài theo thể thơ lục bát cũ như trái đất, con các tác giả khác đều viết toàn tòng “vô lối, nghĩa là dở dơi, dở chuột, ngô ngô ngọng ngong, không ra tư duy, không triết lý…đều vớ vẫn như vô lối của các nhân vật lãnh đạo Hội Nhà văn khóa mới (khóa X): Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Trần hùng, Phan Hoàng, Phạm Đương, Phú Trạm In ra sa ra, Đinh Thị Như Thúy…
BAN LÃNH ĐẠO HỘI NHÀ VĂN KHÓA MỚI (khóa X) ÚNG HỘ CHO THƠ VÔ LỐI
BAN LÃNH ĐẠO HỘI NHÀ VĂN KHÓA MỚI (khóa X) ÚNG HỘ CHO THƠ VÔ LỐI
                               Đỗ Hoàng
 Như đã nói các bài viết trước, lần này tôi (Đỗ Hoàng) xin trích dẫn những cây viêt “vô lối” gia truyền mà Văn nghệ bộ mới, số 1 tâng bốc!
   Ly Hoàng Ly in 6 bài, có chân dung, Văn Giá 3 bài, Hoàng Thụy Anh 3 bài, Lâm Huy Nhuậm 3 bài . Trừ Lâm Huy Nhuạn viết ba bài theo thể thơ lục bát cũ như trái đất, con các tác giả khác đều viết toàn tòng “vô lối, nghĩa là dở dơi, dở chuột, ngô ngô ngọng ngong, không ra tư duy, không triết lý…đều vớ vẫn như  vô lối của các nhân vật lãnh đạo Hội Nhà văn khóa mới (khóa X): Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Trần hùng, Phan Hoàng, Phạm Đương, Phú Trạm In ra sa ra, Đinh Thị Như Thúy…
  Đặc biết hai tác giã nữ: Ly Hoàng Ly, Hoàng Thụy Anh con của hai tay “vô lối” có số má nhũng nhiễu thi đàn : Hoàng Hng, Hoàng Vũ Thuật. Nghĩa là “vô lối gia truyền!
  Hoàng Hưng Sinh 24/11/1942 tại thị xã Hưng Yên;
- Sau khi thi đỗ vào Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1960 đã tình nguyện lên Tây Bắc phục vụ quân đội (dạy học cho sĩ quan trình độ cấp 1 cấp tốc theo chuơng trình Toán Lý Hoá cấp 3) trong 2 năm;
- Tốt nghịêp Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội 1965;
- Dạy Văn cấp 3 tại Hải Phòng (1965-1973). Tình  nguyện đi vào Nam phục vụ trong "mặt trận văn nghệ" nhưng ngành Giáo dục giữ lại vì là giáo viên giỏi lớp cuối cấp;
- Phóng viên, biên tập viên báo Người Giáo viên Nhân dân (Bộ Giáo dục) 1973-1982;
- Bị bắt giam và tập trung cải tạo từ 17/8/1982 - 29/10/1095 vì tội "lưu truyền văn hoá phẩm phản động" (bản thảo tập thơ "Về Kinh Bắc" của Hoàng Cầm và sáng tác, tàng trữ thơ phản động (những trang nhật ký bằng văn vần để trong nhà);
- Sau khi ra tù sống bằng việc dịch sách báo;
- Từ năm 1987 tiếp tục làm báo ở nhiều báo khác nhau, cuối cùng là báo Lao Động (1990-2003), sau đó về hưu.
- Hiện sống tại Hà Nội và TPHCM.
- Có con gái là Hoàng Ly làm mỹ thuật và thơ
  Hoàng Hưng có tập thơ Đất nắng in chung v ới Trang Nghị, cũng loại thơ “mẹ tập con đi, đảng dạy con đi”  . Không ai nhớ. Sau khi đi tù, có viết một số bài thơ”người đi tìm mặt” có bạn đọc, sau đó lấy cớ cách tân làm thơ hủ nút, bẩn thỉu, không ai đọc đọc!
“Đờm, dãi, thịt da tinh khí phì phào, thu hút mãi không thôi cọ sát.Chìm đắm giạt trôi, trôi đâm, đánh bắt, ngũ nhạc lừ lừ, lửa càn rần rật, thần thức nương gió đọa, nước sinh ròng rã, trùng trùng giao kết căn duyên” (“thơ” Hoàng Hưng)
"Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố.” (Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay". ( thơ Hoàng Hưng)
 Còn con: (Hoàng Ly ký Ly Hoàng Ly):
“Vứt đá cuội xuống hồ nước. Mặt hồ khé xao động.Đá cuội chìm xuông đáy. Mặt hồ lại phẳng lặng.Vứt đá tảng xuống hồ nước. Mặt hồ tóe sóng. Đá tảng chìm xuống đáy. Mặt hồ lại phẳng lặng. (Hồ). Tri kỷ của mình là bóng mình.Mấy khi mình nhìn thấy bóng mình. Nhưng người khác thấy”
“ Nười khác nhìn thấy tri kỷ của minh. Sao mình không nhìn thấy. Có phải cứ vừa đi vừa ngước  lên  trờii mình. Có phải mình cứ lo nhìn về phía trước” (Bóng). Đúng là cha nào nào con nấy!
  Hoàng Vũ Thuật sinh năm 1945, quê Quảng Bình, hiện sống Đồng Hới, Quảng Bình. Trước Hoàng Vũ Thuật làm thơ theo lối truyền thống nhưng không hay, sau ông chuyển sang vô lối thì không ai đọc như:
người Di gan

người di gan không buồn
chỉ biết hát
nhiệt cuồng và mê loạn

người di gan không đau
chỉ biết múa
vũ điệu ngã nghiêng phố xá
rạch rúi làm xiếc diễn tuồng

người di gan không khóc
chỉ biết cười
chào mời đổi chác
giơ tay xin giơ tay vẫy mặt trời

người di gan không mệt
quấn trong tấm chăn khẳn mặn mồ hôi
quần thảo dêm đêm hạnh phúc
nối dài dòng người mải miết

người di gan bị dánh cắp mọi thứ
chỉ còn trái đất thênh thênh
ngôi nhà không mái
trái đất di gan
Mátxcơva 3 -7 - 2006


Dịch:

Người Di gan

Người Di gan quên buồn!
Khi nhảy và khi hát
Nhiệt cuồng và mê thác
Giữa ngày dài đêm thâu!

Người Di gan quên đau!
Khi múa ca nghiêng ngã
Vũ điệu bừng phố xá
Thân làm xiếc diễn tuồng!

Người Di gan thậm buồn!
Tiếng cười thay tiếng khóc
Khi chào mời đổi chác
Ngửa tay ăn xin đời!

Người Di gan thay trời.
Lưng mồ hôi khẳn mặn
Đêm hạnh phúc đầy đặn
Trong quần thảo tình sy!

Người Di gan còn gì ?
Giữa cõi trời cao rộng
Không mái nhà hoang trống
Trái đất người Di gan!

Hà Nội ngày 18 - 1 - 2008
(3) Bài in trên Tạp chí Thơ số 5 – 2006
Hoàng Thụy Anh con Hoàng Vũ Thuật, trước có viết phê bình , chỉ khen thơ “vô lối” của cha, nay làm thơ thì làm “vô lối “ như cha:
“người kiếm gì trên ngọ đồi lá vàng. những cái hố run lên thèm đêm trang thổ huyết. có người ngồi bên cửa sổ.quá khs chẹn ngang.chỉ vết xước. sâu kín đôi mắt người đàn bà.” (Đối thoại với bóng)
 Cũng cha nào con nấy!
            Hà Nội ngày 16 tháng 7 năm 2021
                Đ - H