Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

Việt Nam gần Mỹ ...

Thuê xe 16 chỗ

Description: http://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2019/07/Trong-Obama.jpg
Tác giả: Lê Hồng Hiệp
Sau một thời gian tạm lắng ngắn ngủi khi Bắc Kinh dường như kiềm chế không tiến hành các hành động gây hấn đối với các bên tranh chấp khác ở Biển Đông, Trung Quốc lại bắt đầu dương oai diễu võ trong những tuần gần đây. Từ giữa tháng 6, một tàu Hải cảnh Trung Quốc đã quấy rối các tàu Việt Nam đang phục vụ giàn khoan dầu Hakuryu-5 của Nhật Bản tại Bãi Tư Chính, nơi Việt Nam coi là thềm lục địa của mình nhưng Trung Quốc đòi là một phần thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp.
Từ ngày 3 tháng 7, Trung Quốc cũng đã cử tàu khảo sát Haiyang Dizhi 8 để thực hiện một cuộc khảo sát dầu khí tại một khu vực rộng lớn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hộ tống  tàu khảo sát này có ít nhất ba tàu Hải cảnh, khiến Việt Nam phải gửi các tàu cảnh sát biển và kiểm ngư của mình tới hiện trường để theo dõi đội tàu Trung Quốc. Cuộc đối đầu này gợi nhớ đến một cuộc tranh chấp tương tự vào năm 2014 vốn đưa quan hệ song phương xuống mức thấp nhất trong nhiều thập niên. Continue reading “Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đang đẩy Việt Nam lại gần Mỹ hơn”
Chuyện đời văn sĩ Marguerite Duras, tác giả tiểu thuyết ‘Người tình’
Tác giả: Hồ Anh Hải
Marguerite Duras sinh ngày 4/4/1914 tại Gia Định, cha mẹ đều là giáo viên dạy tiểu học ở miền Nam Việt Nam. Tên khai sinh của bà là Marguerite Donnadieu, khi bắt đầu viết văn (1943) bà lấy tên là Duras – một địa danh ngoại ô Paris, nơi cha bà dưỡng bệnh những ngày cuối đời rồi chết (1918). Mẹ Duras là bà Mary Legrand khi ấy đã dùng toàn bộ tiền dành dụm tậu một khu đất tại Campuchia định lập đồn điền kinh doanh. Về sau bà mới biết mình đã nhầm vì mảnh đất này hàng năm bị ngập nước 6 tháng liền. Phá sản, cuộc sống gia đình khó khăn hơn bao giờ hết – kết cục bi thảm ấy đã ảnh hưởng đến Mary và các con.
Sau 17 năm ở Việt Nam, Duras về Paris đi học rồi tốt nghiệp khoa luật và chính trị trường Đại học Sorbonne. Từ năm 1935 đến 1941 bà làm thư ký cho Bộ Thuộc địa Pháp. Tại đây bà quen rồi lấy ông Robert Antelme (năm 1939), người quản lý Phòng Tư liệu tình báo thuộc địa. Tám năm sau họ ly dị.
Thực ra thì từ năm 1942, Duras đã đi lại với bạn chồng là ông Dionys Mascolo. Ba năm sau hai vợ chồng bà cùng Dionys gia nhập đảng Cộng sản Pháp, nhưng về sau cả ba đều bị khai trừ đảng. Có người nói đó là vì Duras “sống chung với hai người đàn ông”, có người nói vì vấn đề chính trị. Cuối thế kỷ 20, Dionys còn khỏe mạnh; ông kể: “Trong thời gian sống với chồng, Marguerite có một vài tình nhân, còn ông Robert cũng đi lại với mấy phụ nữ khác; cho nên tôi đâu có lừa dối gì ông ấy.”
Duras bắt đầu viết văn từ năm 1943, với tiểu thuyết đầu tay “Les Impudents” (Những kẻ vô liêm sỉ). Cuốn “Đập chắn Thái Bình Dương” (The Sea Wall) (1950) phản ánh cuộc sống nghèo khổ thời thơ ấu của bà ở Việt Nam. Nhiều tiểu thuyết khác lấy đề tài là thực tế xã hội Đông Dương. “Thủy thủ Gribaltar” (1952) và các tác phẩm khác của bà chứa nhiều hình ảnh và đối thoại, về sau đều được cải biên thành kịch bản phim.
Duras được coi là nhà văn trường phái tiểu thuyết mới, vì trong các tiểu thuyết như “Con ngựa nhỏ Tarquinia” (1953), “Giai điệu êm dịu” (Moderato Cantabile) (1958), … bà đã mạnh dạn bỏ lối văn kể chuyện truyền thống mà hòa trộn hiện thực với hư cấu làm một. Tác phẩm của bà thường phản ánh sự đối lập giữa giàu với nghèo, nói lên các khát vọng của con người.
Duras gặt hái nhiều thành công trong lĩnh vực kịch bản sân khấu và điện ảnh. Vào các năm 1965, 1968, 1984 bà từng viết 3 kịch bản và được tặng giải thưởng lớn về sân khấu của Học viện France. Các kịch bản điện ảnh xuất sắc như “Mối tình Hiroshima” (1960), “Biệt ly” (1961) đem lại cho Duras tiếng vang lớn. Từ 1965, bà tự đạo diễn làm phim. Từ phim “Bài ca Ấn Độ” (1974) trở đi, năm nào bà cũng dàn dựng 1-2 bộ phim, một số phim từng được giải thưởng lớn quốc tế.
Tổng cộng Duras đã sáng tác được hơn 60 tác phẩm, nổi tiếng nhất là tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant) xuất bản năm bà 70 tuổi. Cuốn sách nửa tự truyện này kể lại một cách vô cùng cởi mở hồi ức của Duras về mối tình đầu giữa một thiếu nữ Pháp 16 tuổi với một người đàn ông người Hoa khi họ cùng sống ở Nam Việt Nam. “L’Amant” nhanh chóng được dịch ra 43 ngôn ngữ, là cuốn sách tiếng Pháp bán chạy nhất năm đó (phát hành hơn 2,5 triệu bản) và được tặng giải văn học Goncourt 1984. Duras trở thành nhà văn viết tiếng Pháp nổi tiếng nhất đương thời.
Sau khi được tin người bạn trai đầu tiên của mình qua đời, năm 1991 bà đã viết lại “Người tình” dưới cái tên mới “Người tình phương Bắc Trung Quốc” (L’Amant de la Chine du Nord), với ngòi bút tả thực khiến bạn đọc vô cùng ngạc nhiên. So với “Người tình” thì thiên truyện viết lại này mô tả rất chi tiết về mặt sinh lý của ông bạn người Hoa. Các đoạn đặc tả về hành vi loạn luân, luyến ái đồng tính trần trụi tới mức kinh khủng. Có điều, suốt cuốn tiểu thuyết chưa bao giờ bà để lộ họ tên các nhân vật chính, chỉ dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba chỉ nhân vật nữ, và dùng “người Hoa” để chỉ tình nhân của mình. Có lẽ bà muốn mãi mãi giấu kín bí mật này.
Một người Ý là Angelo Morino đã vén bức màn bí ẩn ấy: Nhân vật người tình trong “L’Amant” thực ra không phải là bạn trai của Duras, mà là tình nhân của mẹ bà! Trong mấy năm người chồng của Marie Legrand dưỡng bệnh ở Pháp rồi qua đời, thì bà Marie sống tại Gia Định đã quan hệ với một người Hoa. Mối tình ngang trái ấy đưa đến sự ra đời hai chị em: Duras và cậu em trai Paul. Sau này, khi trưởng thành, hai chị em ấy lại quan hệ loạn luân với nhau. Chứng cớ có sức thuyết phục nhất do Morino đưa ra là khi về già, Duras càng ngày càng có nét mặt của một người Âu lai Á, tức giống nhân vật chính người Hoa trong “L’Amant”. Theo Morino, chính mẹ Duras đã bắt cô con gái 16 tuổi của bà bán trinh cho người tình nhiều tuổi của bà để lấy tiền làm lộ phí đưa bốn mẹ con từ Nam Việt Nam về Pháp !
Nhưng một nhân vật từng nghiên cứu kỹ hồ sơ cá nhân của Duras là ông Adlai lại nói mẹ Duras làm việc ấy là để lấy tiền mua ma túy cho người con trai cả của bà! Có thể nhận thấy sự thật đau lòng này qua những dòng viết trong “L’Amant”, cũng như các bức ảnh và cuốn phim của Duras. Từ đó người ta hiểu được tại sao Duras lại thân thiết với em trai mình như thế, thậm chí tới mức có hành vi loạn luân với nhau; trong khi đó cả hai chị em lại vô cùng căm ghét người anh cả cùng mẹ khác cha của họ. Với việc viết lại “Người tình”, Duras muốn trả thù mẹ mình. Qua đây ta thấy Marguerite Duras có cuộc sống nội tâm vô cùng cô đơn. Để giải sầu, mỗi ngày bà uống tới 5 lít vang đỏ, whisky cùng các loại rượu mạnh khác, nhiều lần rượu làm bà hôn mê và liệt chân tay. Quãng đời thơ ấu buồn thảm và việc bà mẹ bắt mình bán trinh khiến Duras luôn luôn cảm thấy mình bị kẻ khác bóc lột và lừa dối. Suốt đời bà so bì tị nạnh từng tý một, tằn tiện đến mức khó hiểu, kể cả khi đã giàu có.
Cuối thập niên 1950, Duras dùng tiền thù lao cải biên tiểu thuyết “Đập chắn Thái Bình Dương” thành phim, tậu một tòa nhà cũ tại ngoại ô Paris rồi ở đây cho tới ngày qua đời (03/03/1996). Mấy năm cuối, bà sống chung với Andrea, một người đàn ông kém bà 39 tuổi. Ông này biến mất ngay sau tang lễ Duras. Tòa nhà ấy hiện do con trai bà là Jean sở hữu, nhưng vẫn giữ nguyên trạng như khi Duras còn sống.
Sau khi Duras qua đời, nhiều tác phẩm của bà vẫn tiếp tục được xuất bản. Những tập bản thảo, thư tín và tài liệu, cùng hàng trăm ấn bản ngoại ngữ các tác phẩm của bà xếp đầy trong phòng khách, phòng ăn. Các phát biểu của bà trên đài phát thanh truyền hình qua chỉnh lý được ghi vào đĩa CD dài tới 5 giờ đồng hồ.
Jean là con trai duy nhất của Duras, hai mẹ con cùng sống bên nhau 49 năm, tình cảm rất sâu sắc. Jean nói, mẹ ông để lại cho ông một tài sản quan trọng nhất, đó là tính cách không chịu khuất phục; bà đã dạy con lòng yêu tự do, không bao giờ để mất niềm tin.
Đúng thế, không ai có thể làm Duras thay đổi ý kiến. Trong suốt 20 năm liền từ khi bà bắt đầu sáng tác văn học (1943), hồi ấy chưa ai coi bà là nhà văn, mỗi tác phẩm của Duras chỉ được in vài trăm bản. Thế nhưng bà chưa bao giờ ngừng sáng tác, ngày nào cũng viết chừng 4-5 giờ đồng hồ, coi đó là một sở thích. Mãi 40 năm sau, khi cuốn “Người tình” nhận giải Goncourt, bà mới trở thành thành ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Pháp và thế giới.
Có nhiều tiền nhưng Duras vẫn tằn tiện. Có người chê bà bần tiện gàn dở, chỉ vì tiền mà viết đi viết lại một đề tài. Bà mặc rất giản dị: quanh năm vận một chiếc váy ống, đội mũ đen, đi đôi ủng ngắn mùa đông! Có bộ quần áo bà mặc suốt 15 năm trời. Duras phân bua: “Thực ra chẳng cần khoác lên người những thứ quần áo đẹp làm gì, vì tôi suốt ngày chỉ vùi đầu vào viết lách thôi mà”. Thủa trẻ bà rất đẹp, nhưng sắc đẹp ấy bị nghèo túng làm cho xấu đi, về sau lại bị rượu giết chết.
Suốt đời Duras sống trong hồi ức, hoài niệm; khi ấy mọi thứ của quá khứ đều sống động như nước chảy trong dòng sông. Nhưng những hồi ức đẹp nhất thì bà lại chưa hề viết ra!
Hồ Anh Hải tổng hợp từ các tài liệu nước ngoài.
#177 – Chiến lược can dự kinh tế đang đổ vỡ của Trung Quốc
Nguồn: Jeffrey Reeves (2013). “China’s Unraveling Engagement Strategy”, The Washington Quarterly, Vol. 36, No. 4, pp. 139–149.>>PDF
Biên dịch: Bế Minh Nhật | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu về Trung Quốc, ở cả Trung Quốc và phương Tây, rằng các yếu tố của chính sách đối ngoại hiện tại của Trung Quốc đang tự chuốc lấy thất bại,[1] là quan trọng nhưng lại hạn chế theo hai hướng nổi bật như sau. Thứ nhất, ý kiến này chỉ tập trung vào các lập trường chính sách mang tính chia rẽ nhất của Trung Quốc,ví dụ như những yêu sách bành trướng lãnh thổ, chính sách ngoại giao gây chia rẽ đối với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), hay việc gia tăng sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế đơn phương. Việc tập trung vào những chính sách gây nhiều tranh cãi này, dù quan trọng, nhưng đã bỏ qua các chính sách ít gây tranh cãi hơn nhưng giờ lại đang góp phần gây nên sự bất ổn ở khu vực. Thứ hai,
các nhà phân tích khi xem xét chính sách đối ngoại của Trung Quốc phần lớn chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước lớn và vừa – như Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam hay Philippines, hoặc các tổ chức tầm cỡ khu vực như ASEAN. Các nghiên cứu này đã bỏ qua mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia đang phát triển và nhỏ hơn – ví dụ như Campuchia, Lào, Mông Cổ hay Myanmar – các nước này, theo nhiều cách, lại đang là những viên gạch tạo nên an ninh khu vực ngoại biên của Trung Quốc.
Bài viết này sẽ chỉ ra rằng những gì được xem là cốt lõi của những mối quan hệ quốc tế ổn định của Trung Quốc trong nhiều năm qua – hay chính là việc trao đổi kinh tế với các nuớc nhỏ và đang phát triển trong khu vực ngoại biên của mình – đã trở thành một nguồn dẫn đến chính sách đối ngoại đang tự chuốc lấy thất bại của Trung Quốc. Không những không giúp đảm bảo thiện chí của các nước khu vực ngoại biên dành cho Trung Quốc, sự phụ thuộc của Bắc Kinh vào mối quan hệ kinh tế với các nước đang phát triển châu Á nhằm tăng cuờng quan hệ với các nước này có thể sẽ phản tác dụng. Ví dụ, khi quan hệ kinh tế với Trung Quốc dẫn đến những hệ quả tiêu cực tại các nước đang phát triển, các chính phủ và xã hội ở đây đã bắt đầu phản đối sự hiện diện của Bắc Kinh. Vì Trung Quốc không cho thấy xu hướng sẽ thay đổi một cách căn bản cách tiếp cận đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu trong mối quan hệ của mình với các quốc gia, khía cạnh can dự với nước ngoài này đang dần đổ vỡ.
Tính chất tự chuốc lấy thất bại của quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước nhỏ ở châu Á là tương đối giống nhau dù cho thể chế chính trị, cấu trúc kinh tế và xã hội của chính các quốc gia này là khác nhau. Các doanh nghiệp Trung Quốc, dù là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, đều thiết lập quan hệ kinh tế với các nước nhỏ thông qua thương mại, đầu tư, các khoản hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các khoản vay. Hoạt động kinh tế tại các nước nhỏ đều dẫn đến những kết quả tiêu cực ví dụ như giảm chất lượng môi trường, bóc lột tài nguyên, hay quá phụ thuộc vào Trung Quốc về thương mại.
Kiểu quan hệ kinh tế này thường dẫn đến sự mất ổn định trong nội bộ các nước nhỏ và ở bề ngoài là quan hệ giữa Trung Quốc và các nước nhỏ. Trong nội bộ, các nước nhỏ thường có bất ổn xảy ra do căng thẳng giữa chính phủ và xã hội. Khi những yếu tố tiêu cực trong sự hịên diện kinh tế của Trung Quốc tăng lên, xã hội bắt đầu gây áp lực lên nhà nước để có biện pháp cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Vì đối với các chính trị gia, việc theo đuổi chính sách hạn chế sự can dự kinh tế của Trung Quốc với đất nước không phải là việc làm tốt nhất đối với lợi ích của họ, nên họ thường chống đối và kết quả là dẫn tới căng thẳng. Nhưng chính ngay khi các nước nhỏ thực hiện các chính sách để hạn chế ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc – như Luật Đầu tư Nước ngoài đối với các lĩnh vực chiến luợc năm 2012 của Mông Cổ nhằm hạn chế việc các doanh nghiệp nhà nuớc Trung Quốc sở hữu và khai thác tại các khu mỏ trọng điểm trong nuớc – sự căng thẳng với Trung Quốc bắt đầu xuất hiện. Sự bất ổn đối ngoại này cũng xảy ra khi các nước nhỏ lựa chọn hợp tác nhiều hơn với các đối tác nước ngoài khác như Hoa Kỳ, để cân bằng sự hiện diện của Trung Quốc. Sự bất ổn trong đối nội và đối ngoại có thể xảy ra riêng lẻ hoặc đồng thời.
Đối với Trung Quốc, kết quả cuối cùng của cả hai sự bất ổn kể trên đều giống nhau: an ninh ngoại biên bị giảm sút. Sự phụ thuộc của Trung Quốc vào quan hệ kinh tế với các quốc gia này nhằm tăng cường hơn nữa lợi ích của mình, cùng với việc nước này không thể hay không muốn hạn chế những tác động tiêu cực của sự hiện diện kinh tế của họ tại các nước, vì thế trở thành một thất sách ngoại giao.
Bài viết sẽ minh họa quá trình này bằng việc xem xét mối quan hệ của Trung Quốc đối với bốn quốc gia nhỏ tại châu Á – Mông Cổ, Campuchia, Lào, và Myanmar. Tất cả bốn nuớc này đều có liên quan bởi lẽ họ đều gần gũi với Trung Quốc về mặt địa lý, có mối quan hệ kinh tế khăng khít và là các quốc gia mà Trung Quốc coi là thiết yếu trong việc duy trì sự ổn định an ninh tại khu vực ngoại biên của mình. Vì vậy việc bất kỳ mối quan hệ nào trở nên xấu đi đối với Trung Quốc đều là nằm ngoài ý muốn.
Chiến lược kinh tế của Trung Quốc
Kể từ sau khi tiến hành cải cách và mở cửa vào cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã dựa trên hoạt động trao đổi kinh tế nhằm thực hiện việc giao lưu với các nước nhỏ ở châu Á. Bốn chiến lược ngoại giao thể hiện rõ cách tiếp cận này đó là “Chiến lược Hợp tác Nam-Nam” (nan-nan hezou), “Chiến lược đi ra ngoài” (zou chuqu zhanlue – Go out strategy), “Chiến sách Láng giềng Tốt” (mulin youhao), và “Khái niệm An ninh Mới” (xin anquan guan).
Việc lặp lại Chiến lược Hợp tác Nam – Nam của Trung Quốc sau thời kỳ đổi mới và mở cửa đã chỉ rõ hướng tiếp cận của Trung Quốc đối với các quốc gia đang phát triển và có nhiều bất lợi trong toàn cầu hóa. Trung Quốc là “người đề xướng và ủng hộ nhiệt thành” các mối quan hệ Nam-Nam, và tin tưởng rằng việc hợp tác sẽ “mang lại một viễn cảnh rộng lớn và tiềm năng khổng lồ.”[2] Ủy ban Quốc gia của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc xác định vai trò của Trung Quốc trong hợp tác Nam-Nam là “thống nhất, lãnh đạo và điều phối” các mối quan hệ kinh tế thông qua đầu tư và viện trợ.[3]
Chiến sách Láng giềng Tốt, được khởi đầu bởi Giang Trạch Dân, cũng nhấn mạnh định huớng trọng tâm của việc trao đổi kinh tế là những mối quan hệ nhà nước tốt đẹp. Về cụ thể, quan điểm này nhấn mạnh việc trao đổi kinh tế đôi bên cùng có lợi (win-win), đối tác kinh tế, hợp tác phát triển, và mở rộng thương mại là các biện pháp nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia ngoại biên. Trung Quốc tái khẳng định việc trung thành với Chính sách Láng giềng Tốt trong trao đổi kinh tế vào năm 2012, trong một báo cáo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18 nhằm kêu gọi việc tiếp tục và mở rộng hợp tác kinh tế với các quốc gia ngoại biên để đảm bảo an ninh khu vực.[4]
Chiến lược Đi ra ngoài, được khởi xuớng năm 1991, là cách Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp của mình đầu tư ra nước ngoài. Li Lihui, chủ tịch Ngân hàng Trung Quốc, mô tả đó là phương pháp mang tính cơ bản mà qua đó Trung Quốc sử dụng toàn cầu hóa nhằm mở rộng xuất khẩu, phát triển công nghiệp, đảm bảo tiếp cận được các nguồn lực nước ngoài, và ảnh hưởng đến việc chuyển giao công nghệ.[5] Ma Zhongpu, chuyên gia phân tích của Mạng lưới Quan hệ Thương Mại Trung Quốc đồng ý với Li – rằng các doanh nghiệp Trung Quốc sử dụng Chiến lược Đi ra ngoài như là một sự chỉ dẫn để tiếp cận với các nguồn tài nguyên khoáng sản và thị trường nuớc ngoài trong phạm vi “gần” và “xa” đối với Trung Quốc, trong khi lại có thể sử dụng các khoản đầu tư và nguồn lao động để giúp các quốc gia khác đạt được mục tiêu kinh tế của chính các quốc gia đó.
Trái với Chiến lược Hợp tác Nam-Nam, Chính sách Láng Giềng tốt và Chiến lược Đi ra ngoài, Khái niệm An ninh Mới, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1996, kết nối kinh tế trực tiếp với vấn đề an ninh. Khái niệm An ninh Mới cho rằng trong thế giời thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, các quốc gia cần tăng cường an ninh thông qua các tiếp xúc về mặt ngoại giao và kinh tế, hơn là thông qua đối đầu và đối kháng như trong thời Chiến tranh Lạnh. Bộ Ngoại giao cũng cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế là một yếu tố kết nối của an ninh khu vực, và rằng Trung Quốc sẽ thúc đẩy hơn nữa việc hợp tác kinh tế để đảm bảo sự phát triển của an ninh khu vực.[6] Cách tiếp cận vấn đề an ninh thông qua kinh tế được đề ra trong Khái niệm An Ninh Mới phù hợp hơn với các nước đang phát triển hơn là với các nước phát triển, khi nó chỉ ra rằng kém phát triển là nguồn gốc của sự bất ổn nội bộ quốc gia và khu vực. Một bản cáo bạch 2011 về Khái niệm An ninh Mới phát hành bởi Quốc vụ viện nhấn mạnh rằng Trung Quốc phải đặc biệt hỗ trợ các nước nhỏ trong phạm vi dẫn dắt của Khái niệm nhằm tạo ra một môi trường an ninh có lợi ở châu Á.[7]
Thông qua việc quan sát những quan điểm chính sách ngoại giao quan trọng này, có thể thấy rõ ràng rằng Trung Quốc xem bản thân mình như một đối tác tốt đối với các nước nhỏ tại châu Á. Như Yang Jiang của Trường Kinh doanh Copenhagen chỉ ra, Bắc kinh thật sự xem mối quan hệ với các nước đang phát triển ở châu Á theo cách của “một nước lớn” (dagou fenfan), hoặc theo cách mà trong đó Trung Quốc hành động như một “lãnh đạo nhân từ.”[8] Tuy nhiên, việc xem xét sâu hơn mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước nhỏ ở khu vực ngoại biên lại mâu thuẫn với những nhận thức này của Trung Quốc.
Sự hoài nghi của các nhà phân tích Trung Quốc ví dụ như về thành công của Chính sách Láng giềng Tốt đang lớn dần lên. Zhu Feng của trường Đại học Bắc Kinh cho rằng Trung quốc đã bị xa lánh bởi nhiều quốc gia nhỏ ở châu Á bởi việc tập trung một cách thiển cận vào thuơng mại mà không quan tâm đến các vấn đề về nhân quyền, nguyên tắc thượng tôn pháp luật, hay bảo vệ môi trường.[9] Bản chất đôi bên cùng có lợi trong Chiến lược Đi ra ngoài của Trung Quốc đã bị  phản bác với các báo cáo về các sự phản kháng ở cả cấp độ nhà nước và xã hội. Zhang Xizhen từ trường Đại học Bắc Kinh cho rằng phần nhiều trong việc bất bình gia tăng đối với các khoản đầu tư của Trung Quốc ở các nước đang phát triển đến từ thái độ thiếu sẵn sàng của Bắc Kinh trong việc điều tiết các ngành công nghiệp mà họ đang khuyến khích “đi ra ngoài”.[10] Chen Fengying, Giám đốc Viện Kinh tế Thế giới thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), nhấn mạnh rằng kết quả tiêu cực của các hoạt động kinh tế của Trung Quốc ở nuớc ngoài, như việc làm giảm sút chất lượng môi trường hay căng thẳng giữa lao động Trung Quốc và cộng đồng dân cư bản địa, đã góp phần vào tình trạng mất an ninh ở các nuớc nhỏ và đang phát triển.[11]
Các học giả đều cũng đã phản bác khẳng định của Trung Quốc rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trong khu vực là nguồn gốc của sự ổn định, và đặt ra câu hỏi về các mục đích kinh tế đằng sau Khái niệm An ninh Mới. Michael Yahuda của trường Kinh tế Luân Đôn cho rằng sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau của Trung Quốc và các nước nhỏ ở châu Á vẫn chưa mang lại sự ổn định lớn hơn, vì các vấn đề chính trị mang tính lịch sử cũng như đương đại vẫn mang tính chất quyết định trong những mối quan hệ này.[12] Daniel Dreznet của trường Đại học Tufts bác bỏ ý tưởng hoang đường rằng sự phụ thuộc về kinh tế sẽ mang lại hòa bình cho châu Á, và nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã từng sử dụng đòn bẩy kinh tế để đạt được các mục tiêu về ngoại giao đối với các nước đang phát triển ở châu Á trong quá khứ.[13] Ví dụ tiêu biểu của việc sử dụng đòn bẩy kinh tế là việc Trung Quốc dùng nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh của mình để khuyến khích các quốc gia đang phát triển ngừng công nhận Đài Loan, và quyết định của Trung Quốc về việc tăng cường các rào cản đối với hoa quả nhập khẩu từ Philippines trong năm 2012 để đáp lại căng thẳng giữa hai quốc gia về chủ quyền khu vực bãi cạn Scarborough. Jia Qingguo của trường Đại học Bắc Kinh cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế không thể đảm bảo những mối quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và các nước nhỏ nếu các nước này không tin tưởng vào các mục đích chính sách ngoại giao của Trung Quốc, và trên thực tế là có nhiều nước như vậy.[14]
Bốn nước láng giềng
Bộ Thương mại Trung Quốc (MOFCOM) xác định Mông Cổ, Campuchia, Lào và Myanmar là các đích đến của đầu tư và thương mại trong “Mục lục Hướng dẫn về các Quốc gia và ngành Công nghiệp nhằm Phát triển ra Nước ngoài.”[15] MOFCOM xác định một số các ngành công nghiệp cụ thể là trọng tâm của đầu tư và phát triển, ví dụ như khai thác gỗ (Lào, Myanmar và Campuchia), dầu và khí thiên nhiên (Myanmar), hang hóa cơ bản (Mông Cổ), và ngành công nghiệp dệt may (Campuchia và Mông Cổ). Mặc dù có thể xem các ưu tiên đầu tư của MOFCOM là hoàn toàn vì mục tiêu thương mại, nhưng làm như vậy là thiếu đi cái nhìn tổng thể. MOFCOM không chỉ là cơ quan chịu trách nhiệm về các chính sách ngoại giao liên quan đến thương mại, mà các chính sách của nó còn trực tiếp phục vụ cho các chương trình chính sách ngoại giao lớn hơn, ví dụ như thúc đẩy hơn nữa Hợp tác Nam-Nam, Chính sách Láng giềng Tốt, Chiến lược Đi ra ngoài và Khái niệm An ninh mới.[16]
Vươn ra bên ngoài
Sự hiện diện của Trung Quốc ở bốn nước này được đại diện bởi các doanh nghiệp quốc doanh (SOEs), các doanh nghiệp bán tư nhân (các doanh nghiệp tư nhân có liên hệ với chính phủ), và các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc. Trong khi cả ba loại hình doanh nghiệp này đều vận hành với một mức độ tự chủ nhất định và có thể phản ứng theo các logic thương mại, MOFCOM vẫn duy trì quản lý những hoạt động của họ thông qua các tổ chức thương mại bán chính thức. Việc giám sát này, cùng với việc ưu tiên được dành cho mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia ngoại biên đang phát triển, cho thấy có một mức độ điều phối của chính phủ đối với các thực thể kinh doanh hoạt động tại các quốc gia đó. Vì thế, cũng không phải là thiếu chính xác khi coi những thực thể kinh doanh đa dạng này chính là hoạt động kinh tế “Trung Quốc chính thức” ở nước đó. Phần còn lại của bài viết này sẽ tiếp tục làm sáng tỏ nhận định này.
Trung Quốc đã từng sử dụng một số biện pháp khác nhau để mở rộng sự hiện diện kinh tế của mình ở Mông Cổ, Campuchia, Lào và Myanmar. Những biện pháp này bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển nước ngoài và các khoan cho vay. FDI từ Trung Quốc là thực sự đáng kể – Trung Quốc là nước đầu tư nhiều FDI nhất tại Mông Cổ, Campuchia và Myanmar, và là nước lớn thứ hai tại Lào (sau Việt Nam). Ở bốn quốc gia này, FDI Trung Quốc hàng năm đều tăng lên theo cấp số nhân trong thập kỷ vừa qua. Ví dụ như FDI của Trung Quốc đầu tư vào Mông Cổ chiếm tới hơn 50 phần trăm tổng số vốn FDI vào đất nước này (596,7 triệu Đô la Mỹ năm 2010). Và để so sánh tương quan, các nước đầu tư FDI thứ hai và thứ ba – Canada và Hà Lan – đều chỉ chiếm lần lượt 8 và 6 phần trăm tổng số FDI.[17] Ở Campuchia, FDI từ Trung Quốc tăng từ 717 triệu Đô la Mỹ năm 2006 lên tới 1,1 tỉ Đô la Mỹ vào năm 2010. Tổng cộng từ năm 1994, Trung Quốc đã đầu tư vào Campuchia 8,9 tỉ Đô la Mỹ, nhiều hơn hai lần tổng giá trị FDI từ nhà đầu tư lớn thứ hai, Hàn Quốc.[18] Tương tự, Trung Quốc cũng là nhà đầu tư FDI lớn nhất vào Myanmar từ trước tới nay: từ 20 triệu Đô la Mỹ năm 2004 đến gần 2 tỉ Đô la Mỹ trong năm 2010 (tăng 9.542 phần trăm).[19] Và con số này vẫn tiếp tục tăng lên, chỉ tính riêng trong năm 2010, Trung Quốc cam kết đầu tư 20 tỉ FDI vào Myanmar trong các dự án đã được phê duyệt.[20] Dù Trung Quốc mới “chỉ” là nhà đầu tư FDI lớn thứ hai tại Lào, với hơn 3,3 tỉ Đô la Mỹ trong 551 dự án kể từ năm 1988, nhưng nước đang tích cực tăng cường đầu tư.[21]
Về thương mại, Trung Quốc là đối tác lớn nhất cho ba quốc gia, với ngoại lệ lần nữa là Lào. Trung Quốc nhận hơn 90 phần trăm xuất khẩu của Mông Cổ trong khi chiếm tới 32 phần trăm tổng nhập khẩu của nước này.[22] Trong năm 2011, Trung Quốc đã vượt Nga trở thành nhà cung cấp lớn nhất của Mông Cổ, một xu hướng cho thấy hoạt động thương mại sâu sắc hơn giữa hai quốc gia trong tương lai. Trung Quốc cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia, chiếm tới hơn 32 phần trăm tổng kim ngạch thương mại của Campuchia. Trái lại, nước xếp hạng thứ hai, Hoa Kỳ, chỉ chiếm 20 phần trăm. Một xu hướng đáng chú ý trong mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Campuchia đó là sự tăng trưởng nhảy vọt 73,4 phần trăm từ 2010 đến 2011.[23] Dù Lào là ngoại lệ trong số 4 bốn quốc gia vì đối tác thương mại quan trọng nhất của Lào là Thái Lan chứ không phải Trung Quốc, nhưng 34 phần trăm xuất khẩu của Lào năm 2010 là tới thị trường Trung Quốc, tăng từ 2,9 phần trăm trong năm 2001, và Trung Quốc cung cấp tới 23 phần trăm giá trị nhập khẩu của Lào.[24] Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất của Myanmar, cung cấp tới 65 phần trăm tổng giá trị nhập khẩu và nhận tới 16 phần trăm tổng xuất khẩu trong năm 2010. Cũng giống như Mông Cổ, Campuchia và Lào, tỷ lệ phần trăm thuơng mại với Trung Quốc của Myanmar cũng đang tăng lên, từ chỉ 4,1 phần trăm tổng giá trị xuất khẩu trong 2001 lên tới 16 phần trăm trong 2010, và 39 phần trăm tổng giá trị nhập khẩu trong 2001 lên tới 65 phần trăm trong 2010.[25]
Trung Quốc cũng là nhà cung cấp lớn các khoản hỗ trợ phát triển (ODA) và các khoản cho vay. Trong khi ODA của Trung Quốc tới bốn quốc gia này không lớn như các khoản ODA từ các quốc gia như Nhật Bản hay Hoa Kỳ, nhưng nếu tính cùng với FDI và thương mại, nó sẽ tạo thành một tập hợp ba yếu tố mà trong đó Trung Quốc có vị trí áp đảo. Hơn nữa, cùng với FDI và thương mại, ODA trong khu vực của Trung Quốc cũng tăng lên trong khi viện trợ từ các nước OECD lại giảm đi.[26] Cách Trung Quốc tiếp cận các quốc gia trong việc cấp viện trợ cũng hấp dẫn hơn đối với nhiều quốc gia – nó đi kèm với ít điều kiện hơn so với các khoản viện trợ từ các nước OECD. Trong nhiều trường hợp, điều kiện duy nhất mà Trung Quốc áp dụng cho các khoản viện trợ của mình đó là nó phải được sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng và sử dụng các doanh nghiệp Trung Quốc. Đối với nhiều nước nhỏ như Mông Cổ, Campuchia, Lào và Myanmar, những điều kiện như vậy đều phù hợp với chiến lược phát triển nội bộ của họ.
Các khoản viện trợ của Trung Quốc dành cho các nước châu Á đang phát triển cũng không phải là nhỏ. Vào năm 2010, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tuyên bố rằng Trung Quốc đã cấp 1,7 tỉ Đô la Mỹ viện trợ tới các nước đang phát triển châu Á bao gồm Mông Cổ, Campuchia, Lào và Myanmar.[27] Khoản viện trợ này không bao gồm các khoản cho vay, vốn cũng rất đáng kể trong những năm gần đây. Trong năm 2010, Trung Quốc đã đồng ý cấp cho Myanmar một khoản cho vay 2,4 tỉ Đô la Mỹ.[28] Trong năm 2011, Trung Quốc đề nghị cho Mông Cổ vay 500 triệu Đô la Mỹ, và trong năm 2012, cho Campuchia vay 436 triệu Đô la Mỹ.[29] Trong năm 2012, Trung Quốc đề nghị cho Lào vay một khoản lên đến 7 tỉ Đô la Mỹ để xây dựng đường sắt cao tốc Lào-Trung Quốc. Quốc hội Lào đã phê chuẩn dự án này trong năm 2012 với thời gian bắt đầu và kết thúc dự án chưa được xác định.[30]
Phản ứng dội lại
Khi sức mạnh trở thành điểm yếu
Download phần còn lại của văn bản tại đây: Chien luoc can du kinh te do vo cua TQ.pdf
—-
[1] Về vấn đề này xem thêm Minxin Pei, “The Bullies of Beijing: China’s Image Problem,” The Diplomat, 15 tháng 12, 2012,  http://thediplomat.com/2012/12/15/the-bullies-of-beijingchinas-image-problem/3/; Elizabeth C. Economy, “China’s Not-So-Beautiful-Neighborhood,” Council of Foreign Relations, 30 tháng 11, 2012, http://blogs.cfr.org/asia/2012/11/30/chinas-not-so-beautiful-neighborhood/; “2011 nian zhongguowaijiao huigu yu zhangwang zhuanti yantaohui huiyi zhibo” [Buổi gặp mặt trực tiếp về chủ đề đặc biệt về  “A review of China’s 2011 diplomacy”], Zhongguo Yatai yanjiu wang [Mạng Nghiên cứu Trung Quốc về Châu Á – Thái Bình Dương], 19 tháng 12, 2011.
[2] Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, “nannan hezuo” [Hợp tác Nam-Nam], http://www.fmprc.gov.cn/chn/gxh/zlb/zcwj/t24777.htm; Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, “China’s Stand on South–SouthCooperation,” 18 tháng 8, 2003, http://www.fmprc.gov.cn/eng/wjdt/wjzc/t24884.htm
[3] Ủy ban Quốc gia Hội Nghị Chính Trị Hiệp Thương Nhân Dân Trung Hoa, “Dui zhongguo nan-nan hezuo fazhan zhanlue de sikao” [Nghiên cứu Chiến lược Phát triển Hợp tác Nam-Nam], 20 tháng 8, 2009, http://www.ctr.cc.gov.cn/2011/09/24/ARTI1316828751015203.shtml.
[4]“Kaichuang mulin youhao hezuo xin jumian” [Bắt đầu một bước mới của Chính Sách Láng Giềng Tốt], Xinhua, 10 tháng, 2012, http://news.xinhuanet.com/comments/2012-12/10/c_113964759.htm.
[5] Quốc vụ viện nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, “Shiwu qijian zhongguo ‘zou chuqu’ zhanlue youli tuidong duiwai jingji hezuo” [Theo sau Đại Hội Đảng Tòan quốc lần thứ 15, Chiến lược đầu tư nước ngòai của Trung Quốc thúc đẩy hợp tác kinh tế nước ngoài], 13 tháng 2, 2006, http://www.gov.cn/gzdt/2006-02/13/content_187120.htm.
[6] Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, “Zhongguo guanyu  xin anquan guan de lichang wenjian” [Tài liệu về vị trí của Trung Quốc trong Khái niệm An ninh Mới], 31 tháng 7, 2002, http://www.fmprc.gov.cn/chn/gxh/zlb/zcwj/t4549.htm.
[7] Gao Xing, “Baipishu: Zhongguo changdao huxin, huli, pingdeng, xiezuo de xin anquan guan” [Cáo Bạch: Khái niệm An ninh Mới của Trung Quốc thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau, cùng có lợi và bình đẳng], Xinhua, 6 th áng 9, 2011, htttr.olitics.people.com.cn/GB/1026/15600348.html.
[8] Yang Jiang, “Great power style in China’s economic diplomacy,” The Hague Journal of Diplomacy 6, số 1 (2011), tr.. 64.
[9] “2011 nian zhongguo” [Buổi gặp trực tiếp về chủ đề đặc biệt về ‘A review of China’s 2011 diplomacy’]. Xem thêm Men Honghua, “Zhongguo jueqi yu dongya anquan  zhixu de biange” [Sự trỗi dậy của Trung Quốc và thay đổi về vị thế an ninh của các quốc gia Đông Á] Guoji Guancha [Người Quan sát Toàn cầu], số. 2 (2008).
[10] Antoaneta Bezlova, “Backlash against Rouge Chinese Investors Alarms Beijing,” InterPress Service, 3 tháng 1, 2010, http://ipsnews.net/news.asp?idnews=49879.
[11]“2011 nian zhongguo” [Buổi gặp trực tiếp về chủ đề đặc biệt về ‘A review of China’s 2011 diplomacy’].
[12] Michael Yahuda, “Chinese dilemmas in thinking about regional security architecture,” The Pacific Review 16,số. 2 (2003), tr. 195.
[13]  Daniel Drezner, “Bad Debts: Assessing China’s Financial Influence in Great Power Politics,” International Security 34, no. 2 (2009), pp. 10.
[14] “Beijing daxue guoji guanxi xueyuan fu yuanzhang Jia Qingguo jiaoshou zhuzhi fayan shi lu” [Bài nói chuyện của Phó chủ tịch trường Quan hệ Quốc Tế Đại học Bắc Kinh Giáo sư Jia Qingguo], Chahaer xuehui [Viện nghiên cứu Charhar], 29 tháng 12, 2011.
[15] Bộ Thương Mại và Ngoại Giao Trung Quốc, “Duiwai touzi guo bie chanyue daoxiang mu lu” [Mục lục Hướng dẫn về các Quốc gia và ngành Công nghiệp nhằm Phát Triển ra Nước Ngoài.], Bắc Kinh, 2011.
[16] Linda Jacobson và Dean Knox, “New Foreign Policy Actors in China,” SIPRI Policy Paper, số. 26 (Stockholm: Stockholm International Peace Research Institute, 2010), 10http://books.sipri.org/files/PP/SIPRIPP26.pdf.
[17]“Foreign Direct Investment, Net Inflows, Mongolia,” World Bank, 3 tháng 2, 2012, http://data.worldbank.org/country/mongolia.
[18] “Investment Trend: FDI Trend,”Council for the Development of Cambodia, April 2012, http://www.cambodiainvestment.gov.kh/investment-enviroment/investment-trend.html; Cambodia Development Research Institute, Annual Development Review (Phnom Phen: CDRI, 2012), tr. 7.
[19] Jared Bissinger, “Behind Burma’s Rising FDI,” The Diplomat, 31 tháng 8, 2011, http://thediplomat.com/asean-beat/2011/08/31/behind-burmas-rising-fdi/.
[20] Bộ Thương Mại Trung Quốc, “2010 Statistical Bulletin on China’s Outward Foreign Direct Investment,” 16 tháng 9, 2012, http://hzs.mofcom.gov.cn/accessory/201109/1316069658609.pdf.
[21] “Zhongzi qiye 20 duonianlai zai Laowo touzi 33 yi meiyuan” [Doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư 3.3 tỉ Đô la Mỹ vào Lào trong 20 năm qua], China–ASEAN Free Trade Area, 3 tháng 6, 2012, http://www.cafta.org.cn/show.php?contentid=63915.
[22] Văn phòng Thống Kê Quốc Gia Mông Cổ, “Monthly Bulletin of Statistics, November 2011”, tháng 11 2011, http://www.nso.mn/v3/index2.php?page=menu&m_id=266&s_id=0.
[23] Nhuon Sovan, “Cambodia’s Trade with China in 2011 up 73.5 pct,” Cambodia Daily News, 10 tháng 2, 2012.
[24] “Laos,” The Observatory of Economic Complexity, 20 tháng 12, 2012, http://atlas.media.mit.edu/country/lao/.
[25] “Myanmar,” The Observatory of Economic Complexity, 20 tháng 12, 2012, http://atlas.media.mit.edu/country/mmr/.
[26] Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, “Towards Human Resilience: Sustaining MDG Progress in an Age of Economic Uncertainty,” 13 tháng 10, 2011, tr. 147-148, http://www.undp.org/content/dam/undp/library/Poverty%20Reduction/Inclusive%20development/Towards%20Human%20Resilience/Towards_SustainingMDGProgress_Ch5.pdf.
[27] “Hu Jintao: In the last 10 years, China has provided 1.7 billion in ODA,” China News, 11 tháng 12, 2011, http://www.chinanews.com/cj/2011/12-11/3523093.shtml.
[28] Juliet Shwe Gaung, “Massive loan from China to fund gas investment,” The Myanmar Times, 13 tháng 12, 2010, http://www.mmtimes.com/2010/business/553/biz55301.html.
[29] “China provides largest loan to Cambodia,” The China Daily, 17 tháng 7, 2012, http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2012-07/17/content_15591814.htm.
[30] “Laos–China rail link,” Australia Network News, 21 tháng 11, 2012, http://www.abc.net.au/news/2012-11-21/an-laos-china-rail-link/4384346.


Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

Thơ tự do của Đỗ Hoàng (Bài 6)

Thuê xe 16 chỗ

THƠ TỰ DO CỦA ĐỖ HOÀNG (Bài 6)

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH

 
           NỖI ĐAU TRONG LOÀI TA Ở



 Con người còn giết nhau kinh khủng lắm.
Trên hành tinh này máu thắm luôn rơi!
Những khoảng rừng lô nhô xương trắng,
Những đồng hoang rờn rợn sọ người!

Cái chết bây giờ không được lành nguyên.
Không chỉ giản đơn đầu lìa khỏi cổ
Không chỉ lặng im xuôi tay xuống mộ
Cái chết bây giờ
Chết lại lần hai!

Cái chết muôn đời
Thảm hoạ nguồn vui.
Mặt đất vô cũng trào lên nức nở.
Đêm rùng rợn kinh hoàng dây bom nổ.

Ngày điên cuồng gầm rú máy bay ma!
                 

 Văn minh làm chi?
Những thế kỷ trôi đi
Loài người không cản được đường gươm, mũi kiếm.
Văn minh làm chi?
Bao thế hệ xót xa.
Nơm nớp lo âu, đói nghèo, chết chóc mạng sống!

Con người thù hằn lẫn nhau
Nỗi thù hằn điên dại.
Con người căm hờn lẫn nhau
Cái hờn căm quỷ quái.
Lương tâm nào lại đổi trắng thay đen!

Ngọn lứa âc tàn ngự trị trong tim nghìn thế kỷ lại thắp lên.
Cái oán sự thù nghìn đời nay lại đổ lên đầu nhân loại,
Biết bao nhiêu bộ óc siêu việt cũ mèm lại cuồng điên.
Để cái chết vạn sinh linh lúc nào cũng luôn luôn mới


Tỷ tỷ vòng quay trái đất quanh mặt trời triệu triệu đời vẫn không thay đổi.
Vì không sớm nào không có mặt trời lên,
Vì không có sớm nào không có bình minh đẹp.
Thế mà không có sớm nào lại vắng tiếng gươm đao và tiếng kêu của người bị giết.
Thiên nhiên vô tri trước sự huỷ diệt của muôn loài.
Khi sự chém giết đã nâng lên thành nghệ thuật trên đời.

Bọn đao phủ tìm ra thú vui của bầy đao phủ.
Con người mặt thú vẫn lấy ác tàn ngự trị.
Trái đât không vượt ra ngoài khuôn hình của một cái đầu lâu!

Có gì kinh hoàng hơn con người có bộ óc thú đã ăn sâu.
Con người cái loài thú tệ tàn nhất trong các loài thú.

             

 Lòng từ thiện cũng chỉ là tấm bia bọt bèo luôn bị bắn vỡ,
Biết bao giọt máu người bây giờ đã trắng xoá màu vôi!
Con người ác tàn bậc nhất trong muôn triệu loài
Sáng tạo ra vũ khí giết người làm gì mà sáng tạo?
Khi trên địa cầu hàng ngày vẫn thom thóp bom rơi,
Và cả thảm thê những hình hài vấy máu.

Nỗi đau trong loài ta ở
Nỗi đau tỷ năm!
Người lính hiểu giá máu mình đã mất.
Nỗi đau chiến tranh
Nỗi đau bậc nhất!
Tiếng nổ của viên đạn đồng kia làm nổ trái tim!

               Cao điểm chốt 280 Biên giới Việt - Lào       Ngày 4 – 5 – 1973
                                   Đ- H
(*) Rút trong tập thơ Tâm sự người lính - NXB Văn học 1996- NXB Hội Nhà văn 2018

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2019

Đỗ Trung Lai đánh trống qua cửa Sấm!

Thuê xe 16 chỗ

ĐỖ TRUNG LAI ĐÁNH TRỐNG QUA CỬA SẤM!

                                          Đỗ Hoàng

 
    Thi thoảng cũng có người dịch thơ tiếng nước ngoài qua bản dịch nghĩa của người khác ra thơ tiếng mẹ đẻ. Bài thơ dịch thành công hay không thành công tùy thuộc vào sự cảm thụ của người dịch qua việc chuyển nghĩa của người dịch nghĩa. Người dịch thơ như thế cũng là bất đắc dĩ mà thôi. Ở nước ta có người dịch như thế làm thành cuốn sách này sang cuốn sách khác và công bố rầm rộ trên những báo văn học chính thống: Văn nghệ, Tạp chí Thơ, Nhà văn, Nhà văn và Tác phẩm, Người Hà Nội... như là một “tài năng” dịch thơ, đó là Đỗ Trung Lai (!).  Đỗ Trung Lai dịch thơ các đại thi hào, thi hào Trung Hoa như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Đỗ Mục... bằng bản dịch nghĩa, dịch thơ tiếng Hán của người khác sang thơ Việt. Nhiều người nể, nhiều người chê. Có người cho rằng Đỗ Trung Lai làm vậy khác nào chế biến thức ăn bằng thực phẩm ôi. Tôi cố gắng đọc lại những bản dịch thơ của ông và để thưa với bạn đọc.
 Trước hết ông Đỗ Trung Lai như ông tự nhận là không biết chữ Hán cả nói, cả viết, cả nghe, cả đọc ...nghĩa là không biết tí gì về Hán ngữ, mà chịu khó đọc qua bản dịch nghĩa để cảm thụ thơ tiền nhân Trung Hoa và dịch thơ theo ý riêng của mình là điều đáng trân trọng. Nhưng người không biết ngoại ngữ dịch thơ nước ngoài ra thơ tiếng mẹ đẻ khó thành công. Vì bản dịch nghĩa dù chính xác đến đâu thì người dịch lại ra thơ đều “tam sao thất bản”. Có khi sai nghĩa nguyên bản bài thơ trầm trọng. Ngay nhà thơ Tản Đà uyên thâm Hán học mà dịch thơ Vương Duy câu “An thiền chế độc long” (Đắc đạo trong Phật trị được rồng dữ) bay nghĩa thành: (Quy y đạo Phật sửa mình là hơn). Huống gì người không biết chữ Hán. Việc dịch thơ như vậy rất phản tác dụng. Đỗ Trung Lai là thế.
Bài “Bất kiến” là bài thơ Đỗ Phủ viết cho Lý Bạch khi Lý Bạch gần 60 tuổi rồi mà vẫn vướng vào vòng lao lý. (Lúc Lý Bạch 55 tuổi theo Lý Lân - Vĩnh Vương chống An Lộc Sơn, nhưng Lý Hanh - Túc tông sợ Lân thắng giặc sẽ chiếm mất ngai vàng nên phái đại quân đánh bại Lân. Lân bị giết, Lý Bạch bị ghép vào tội mưu phản, đày đi biết xứ  - Quý Châu. Nửa đường may có lệnh được ân xá). Đỗ Phủ và Lý Bạch là hai người bạn vong niên. Đỗ Phủ thua Lý Bạch 12  tuổi. Thời xưa khoảng cách tuổi tác này là lớn lắm. Nhưng hai người quý trọng tài nhau và viết cho nhau những bài thơ bất hủ về tình bạn thơ. Nhưng bản dịch nghĩa trong bài thơ Bất kiến Đỗ Phủ gọi Lý Bạch là chàng không chính xác lắm đâu. Tiếng Hán hay Hán - Việt “sanh” - (sinh) có khi là đại từ anh, bác, bậc trí thức...
Nguyên bản: (trích)


杜甫











“Thế nhân giai dục sát
Ngô ý độc liên tài
Mẫn tiệp thi thiên thủ
Phiêu linh tửu nhất bôi...”
Nghĩa là:
“Người đời ai cũng muốn giết
Ý ta riêng vẫn thương tài
Trí mau lẹ viết nên hàng nghìn bài thơ
Lưu lạc vẫn vui cùng chén rượu...”
Đỗ Trung Lai dịch thơ:
“Bao người mong chàng chết
Riêng ta thương chàng tài
Vung bút thơ ngàn áng
Nâng ly mặc kệ đời...”
 Cả bài thơ Bất kiến có 40 chữ, Đỗ Phủ chỉ một lần nhắc tên Lý sinh - chàng Lý (Bất kiến Lý sinh cửu). Đỗ Trung Lai mới dịch 2 câu thơ trên mà đã nhắc 2 chữ “chàng” rồi (chàng chết, chàng tài). Trong nguyên bản có chàng đâu (!). Đây là một sự bịa “vẽ rắn thêm chân”!
 Câu thơ của thi thánh Đỗ Phủ như hai viên ngọc dạ quang:
“Thế nhân giai dục sát
Ngô ý độc liên tài”
Câu thơ dịch của Đỗ Trung Lai:
“Bao người mong chàng chết
Riêng ta thương chàng tài”
như hai viên phân dơi!
 Không biết chữ Hán dịch thế là quá vụng, quá dỡ nhưng còn tha thứ được vì nó chưa bay nghĩa, còn dịch câu “Phiêu linh tửu nhất bôi “ ra “Nâng ly mặc kệ đời” là hỏng hoàn toàn bài thơ của Thánh thi!
 Lý Bạch là người ôm mộng kinh bang tế thế, không chỉ nói bằng thơ mà ông còn cầm kiếm ra thi thố với đời. Ông theo Lý Lân chống loạn An Lộc Sơn. Đỗ Phủ  viết bài Bất kiến chính là khuyên Lý Bạch già rồi “Đầu bạch hảo quy lai” nên lui về. Lưu lạc vẫn vui, “phiêu linh tửu nhất bôi”  nhờ có chén rượu là Lý Bạch vẫn tin vào đời và nặng đời lắm chứ! “Nâng ly mặc kệ đời” dịch thế thì dịch cho Chí Phèo thì được!
 Đỗ Trung Lai dịch không hay hơn tiền nhân rồi vì không hiểu nghĩa gốc nên phịa ra nhiều việc sai nguyên bản. Như bài Thạch Hào Lại:
Nguyên bản: (Trích)

杜甫


...




“...Dạ cửu ngữ thanh tuyệt
Như văn khốc u yết
Thiên minh đăng tiền đồ
Độc dữ lão ông biệt!”

(Đêm khuya đã dứt lời
Như nghẹn ngào ảo nảo
Sáng từ biệt lên đường
Chỉ còn độc ông lão!)
(Phạm Lệ Duyên và Tương Như)

“Dạ cửu ngữ thanh tuyệt” (Đêm khuy khoắt tiếng nói im bặt) có tường vách đâu mà Đỗ Trung Lai phịa ra tường vách và mô phỏng vần điệu, ý tứ dịch giả trước đã dịch rồi dịch theo:
“Tiếng người im ngoài tường
Đêm nghẹn ngào ảo nảo
Sáng chia tay lên đường
Chỉ còn mình ông lão”
(Thạch Hào Lại - Đỗ Trung Lai dịch lại)
Người dịch thơ không được “sáng tác” ra kiểu này.
Đỗ Trung Lại hay “sáng tác “và  thêm thắt làm cho bài thơ nguyên bản sai hắn nghĩa. Như bài:

VÔ GIA BIỆT (Trích)

杜甫




...


...




VÔ GIA BIỆT
(Cuộc chia tay kẻ không nhà)
“Làng xưa giờ toàn ngõ trống
Mặt trời gầy guộc thảm thê
Cáo dại, chồn hoang đẩy cửa
Dựng lông dọa cả người về
Sinh con chưa từng nhờ cậy
Một đời biết mấy khổ đau
Còn nhà đâu mà ly biệt
Mà dâng mẹ bát canh rau...”
(Đỗ Trung Lai dịch lại)
Nguyên bản:
...
Viên lư đãn cao lê
...
Nhật khấu khí thảm thê
...
Đãn đối hồ dữ ly
Thụ mao nộ ngã đề
...
Sinh ngã bất đắc lực
Chung thân lưỡng toan tê
Nhân sinh vô gia biệt
Hà dĩ vi chưng lê!?
Dịch nghĩa:
Nhà vườn toàn là cỏ dại
...
Ánh nắng thoi thóp cảnh tượng thê lương
...
Đối mặt ta là cáo và cầy
Xù lông sủa ta
...
Đẻ ra ta mà chẳng được nhờ
Suốt đời mẹ con đều chua xót
Đời người không có nhà để mà từ biệt
Thực làm dân đen không đáng?

Bản dịch thơ của Khương Hữu Dụng
Vườn lều chỉ có gai
...
Buồn tênh bóng nắng gầy
...
Chỉ gặp cầy với cáo
Xù lông khịt dọa tôi
...
Sinh tôi chẳng được gì
Suốt đời hận cả đôi!
Người không nhà mà biệt
Sao gọi được là người?

Câu kết : “Hà dĩ vi chưng lê - Thực làm kẻ dân đen cũng không đáng - Là câu thơ tầm tâm linh trí tuệ của bậc Đại thi hào Đỗ Phủ, Đỗ Trung Lai “sáng tác” ra “Mà dâng mẹ bát canh rau” nói thật là bôi bẩn Thi thánh!

Bài “Đăng cao” là bài thơ Đường thất ngôn bát cú thuộc loại kinh điển của Đường thi. Bài thơ có 8 câu đối cả tám. Người xưa đã bình bài này ở tầm vóc lớn của một trí tuệ cao siêu, nghệ thuật điêu luyện bậc thầy, tình cảm cường liệt hiếm có mới viết nên thi phẩm có một không hai trong thơ Đường. Nhiều bản dịch của dịch giả ở nước ta như : Tản Đà, Tương Như,  Nhượng Tống, Nam Trân, Khương Hữu Dụng...đều chưa đạt với nguyên bản. Đọc nguyên bản vẫn thấy hay hơn!
Đỗ Trung Lai không biết niêm, luật, đối của Đường thi và nhất là của “Thất ngôn bát cú” nên dịch hỏng bài Đăng cao, đảo ngược đảo xuôi, lộn tùng phèo, thật đáng trách!
Nguyên bản:

杜甫










ĐĂNG CAO
Thiên cao, phong cấp viên khiếu ai
Chử thanh, sa bạch điều phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hân phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi!”

Nam Trân dịch thơ:
LÊN CAO
“Gió gấp trời cao, vượn nỉ non
Bến trong cát trắng lượn chim cồn
Rào rào lá trút rừng cây thẳm,
Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn
Thu quạnh nghìn khơi lòng khách nảo
Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn
Gian nan khổ hạnh đầu thêm bạc
Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn!”

Đỗ Trung Lai dịch lại:
“...Bãi vắng chim về trên cát trắng
Trời cao gió lộng vươn than dài
Lá đổ tơi bời trên đất lạnh
Trường Giang cuồn cuộn chảy về xuôi...”
Không đạt một tí gì!
  Hồi trẻ học ở trường các thầy có bảo: “Kẻ yếu kém mà càng nhiệt tình thì thành kẻ phá hoại lớn”. Đỗ Trung Lai không biết chữ Hán càng cố dịch thơ Hán ra thơ Việt in hết tập này đến tập khác rồi đăng đàn diễn thuyết các hội thơ lớn như “Hội thơ Văn Miều hàng năm” thiết nghĩ là một việc  không nên làm. Tác hại của nó không lường hết.  Đỗ Trung Lai đã đánh trống qua cửa Sấm!



Hà Nội ngày 5  tháng 5 năm 2016
Đ - H
Phụ lục:


杜甫












Đỗ Phủ

BẤT KIẾN

Bất kiến Lý sinh cửu
Dương cuồng chân khả ai
Thế gian giai dục sát
Ngô ý độc liên tài.
Mẫn tiệp thi thiên thủ
Phiêu linh tửu nhất bôi
Khuông sơn độc thư xứ
Đầu bạch hảo quy lai!

Đỗ Hoàng dịch thơ:

LÂU KHÔNG GẶP

Lâu không gặp Lý Bạch
Giả điên thật thương thay.
Người đời đều muốn giết
Riêng chỉ ta thương tài.
Trì lẹ nghìn thi tứ
Lưu lạc chén mềm môi
Núi Khuông còn sách đọc
Đầu bạc nên về thôi!

Cao điểm chốt 280 - Biên giới Việt Lào năm 1972
Đ - H
 
VƯƠNG TRỌNG DỊCH HỎNG CHINH PHỤ NGÂM GÂY TÁC HẠI LÂU DÀI CHO NHÂN DÂN VÀ HỌC SINH, SINH VIÊN
Đỗ Hoàng
Vương Trọng dịch Chinh phụ ngâm ra thơ lục bát in trên báo mạng (1) cách đây mấy năm, rồi tiếp những bài phê bình của ông về bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm (hay Phan Huy Ích).
Tôi đọc bản dịch nghĩa, dịch thơ (lục bát) Chinh phụ ngâm của ông (ông nói có tham khảo bản dịch nghĩa của cụ Vũ Huy Động), nên tôi phải lên tiếng phê bình về chất lượng bản dịch của Vương Trọng để cho bạn đọc biết!.
Trước hết, Vương Trọng và cả cụ Vũ Huy Động đa phần đã dịch bỏ chữ, bỏ ý hoặc thêm chữ, thêm ý chủ quan của mình, nhiều chỗ sai nghĩa một cách trầm trọng bản Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn. Rất nhiều chữ dịch sai, cụm từ dịch sai, cả câu dịch sai. Dịch nghĩa không ra dịch nghĩa, dịch thơ không ra dịch thơ! Đây là điều rất tối kỵ trong dịch thuật. Về dịch thơ có thể bỏ ý nhỏ, nhưng ý chính luôn luôn phải giữ, không thể “tác dịch” như một vài dịch giả hiện nay. Điều này, người đọc không còn hiểu đúng nguyên bản, càng phản tác dụng khi người dịch thơ rất kém.
Nguyên văn:
      
Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt
      
Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Nghĩa là:
Tiếng trống trận nơi Trường Thành đánh dồn dập làm náo động cả vầng trăng
Ngọn lửa báo hiệu có giặc ở chốn Cam Tuyền cháy bỏng đến tận tầng mây.
Hai câu thơ hay quá không cần trình độ Hán ngữ, người Việt ai cũng cảm được và hiểu được!
Vương Trọng dịch thơ:
Trăng rung nhịp trống Trường Thành
Cam Tuyền lửa hắt rạng hình ngàn mây.
Câu một dịch sai nghĩa hoàn toàn. Sao là trăng rung nhịp trống? 
    - Cổ bề thanh động là tiếng trống trận đánh dồn dập liên hồi kỳ trận đến mức làm náo động cả vầng trăng. Trống trận chứ không phải tiếng trống thường! Thế mới là không khí chiến tranh tang thương!
Về thơ, hai câu dịch này quá dở, thô thiển, vần lại không chuẩn, ép vần. Về nghĩa ý, tư tưởng câu đầu hỏng.
Tiếp:
      
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
      
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Nghĩa là: Đương khi ấy nghe tin, nhà vua nổi giận rời chiếu ngồi, vỗ gươm đứng dậy
Tức thì, nửa đêm truyền hịch chuyển nhanh như bay đến các tướng quân
Ở đây xin nói thêm chữ : Trùng (
).
Chữ “Trùng” âm Hán - Việt còn đọc là “Trọng”.
Đọc “Trùng: thì có 2 nghĩa: 1- Trùng, Lặp lại (cửu trùng – nơi vua ở, vua, trùng cửu, phúc bất trùng lai, trùng trùng điệp điệp, trùng tang, trùng phùng, trùng dương… 2 - Lần (Chín lần “cửu trùng”, tám lần “bát trùng”, hai lần “nhị trùng”…)
Đọc “Trọng” thì có nhiều nghĩa: 1 - quý trọng, trọng thị, kính trọng, quan trọng…2 – nặng nhẹ: nhất bên trọng, nhất bên khinh, trọng án… 3 – bệnh tật: trọng bệnh..4 - chuộng : trọng nông, ức thương…5 - công bằng: trọng tài…
Nếu chữ 
 - Trùng hiểu theo nghĩa là “ - lần – chữ Nôm” thì đúng là “chín lần gươm báu trao tay” như có bản chép Đoàn Thị Điểm dịch thơ Nôm theo nghĩa này. Nhiều bản dịch đề “chín tầng” nhưng không chép chữ Nôm là “ – tầng” mà vẫn chép chữ Nôm “lần - ” như:
𠃩 “” 鎌宝𢶢𢬣
Chín tầng gươm báu trao tay,
(Website: Wikisource, tiếng Việt - 
https://vi.wikisource.org và Từ điển Wikipedia tiếng Việt)
Còn chữ : 
 - Tịch: chiếc chiếu, ngồi.
Ngoài nghĩa “chiếu:, “ngồi” còn chỉ chức vụ người đang giữ như: 
  (Chủ tịch – Người đứng đầu trong một tổ chức đơn vị) ,   (Hình tịch – Người coi về hình danh). Nên nghĩa “lần” thì:
𠃩吝鎌宝𢶢𢬣 . (chữ Nôm)
 虧傳檄定𣈗出征
(Chín lần gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh)
Là dịch thơ hay mà có bám sát nghĩa.
Bởi vì “
  – cửu trùng – chữ Hán” và “𠃩  - chín lần – chữ Nôm” vốn là số từ thuần túy!
Vương Trọng dịch nghĩa:
Nhà vua bỏ tiệc, chống kiếm đứng lên
Dịch thế là dịch nghĩa sai. Trong nguyên bản chả có từ nào chỉ yến tiệc. Dịch nghĩa thêm từ mới, bỏ từ trong nguyên bản (
  - đương tịch,   – tướng quân) là dịch không tôn trọng văn bản và tác giả!
Nên dẫn đến dịch thơ :rất xoàng. Chữ “ngay” thêm vào cho hiệp vần là rất kém, không thơ chút nào:
“Vua chống kiếm đứng lên ngay
Nửa đêm khẩn cấp hịch bay lệnh truyền”
Câu thơ dịch như vè vẻ vè ve, nghe vè lá lốt (!)!
Tiếp: 

      
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
      
Tùng thử nhung y thuộc vũ thần
Nghĩa là:
Ba trăm năm thiên hạ được thái bình
Nhưng từ nay võ quan lại phải mặc áo lính ra trận
Vương Trọng dịch thơ:
“Áo nhung quan võ khoác lên
Hết ba thế kỷ ấm êm thanh bình”.
Câu thơ dịch vừa sơ sài, vừa dở, vừa kém, Vương Trọng dịch rất tùy tiện, đảo ý câu trên xuống câu dưới, ý câu dưới lên câu trên! Không có một tí gì sáng tạo từ mới. Bê nguyên xi từ cũ của Đoàn Thị Điểm “ 
  (chữ Nôm) - áo nhung -” vào câu thơ dịch. Mà từ này cũng không Việt hóa lắm. Nó vừa Nôm vừa Hán.
 - Nhung : đồ binh (cung, nỏ, gióa, mác, kích – ngũ nhung).
“Đẩy xe vâng chỉ đặc sai
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung”.
“Đổng nhung” là trông coi, đốc suất việc quân
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du))
  :
Nhung y là trang phục của binh lính nói chung. Dùng từ “áo nhung” thời bà Điểm còn được chỉ áo giáp, quân phục người ra trận,, thời này nói áo nhung thi phải nói quần nhung, tất nhung, váy nhung, mũ nhung, xi líp nhung, xu chiêng nhung, coóc - sê nhung, vớ nhung (cho bộ đội nữ)… thì nó ra làm sao? Bê những cái thời trước không hợp thời nay, mà không chịu sửa chữa. Câu thơ dịch thời nay chẳng Việt hóa tí nào, vẫn giữ nguyên âm Hán Việt chưa được Việt hóa bao nhiêu của những ba thế kỷ!:
Dịch thơ thế này là rất dở:
   
Thiên địa phong trần
   
Hồng nhan đa truân
“Đất trời gió bụi nổi lên
Hồng nhan gánh chịu truân chuyên não nùng”
(Vương Trọng)
‘Thiên địa phong trần – Đất trời gió buị” là quá đủ ý, quá hay rồi. “Đất trời gió bụi nổi lên” là vẽ rắn thêm chân. Phải như Đoàn Thị Điểm là vào cái “Thuở” câu thơ dịch mới có thần:
𨤧𡗶坦常欺逾𡏧 (chữ Nôm)
𦟐𡗉餒迍邅
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”
“Hồng nhan”, “truân chuyên” là những từ Hán. Đoàn Thị Điểm còn Việt hóa – “Khách má hồng” còn Vương Trọng thì vẫn y sỳ giữ âm Hán “Hồng nhan gánh chịu truân chuyên não nùng”. Câu thơ dịch quá nặng nề Hán tự, không một tí sáng trong tiếng Việt. Chữ nghĩa của Vương Trọng hình như quá ít hay sao? Thiếu gì chữ Việt:
“Đất trời gió bụi đảo điên
Má hường trắc trở, tơ duyên nổi chìm!.”
Đỗ Hoàng ví dụ thế!
Tiếp:
      
Trượng phu thiên lý chí mã cách
      
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Nghĩa là:
Người anh hùng với chí “mã cách” chiến đấu ngoài nghìn dặm dẫu có chết lấy da ngựa bọc thây đem chôn
Và tính mệnh nặng như Thái Sơn, cái chết nặng như Thái Sơn nhưng khi hất xuống coi nhẹ tựa lông chim hồng!
Vương Trọng dịch nghĩa:
Ngàm dặm chí trai da ngựa bọc
Tay nhấc Thái Sơn nhẹ như lông hồng.
Dịch nghĩa mà như dịch thơ. Chí trai là chí “mã cách” . Mã cách là lấy da ngựa bọc thây chôn tử sỹ. “Mã cách” là điển tích từ câu nói của Mã Viện đời trước, làm trai chiến đấu ngoài chiến trường nếu chết bọc da ngựa đem chôn, chứ không ru rú chết già xó giường. Không nên dịch Nôm “chí trai da ngựa bọc”. “
  - Mã cách” nguyên là danh từ chuyển sang nghĩa tính từ hoặc trạng từ bổ nghĩa tùy theo văn cảnh sử dụng.
Vượng Trọng hiểu sai nên dịch ra thơ thì phá hủy thơ Đoàn Thị Điểm hoàn toàn:
“Lấy da ngựa bọc chí trai
Thái Sơn tay nhấc nhẹ thay lông hồng”
“Lấy da ngựa bọc chí trai”, nó vừa sai nghĩa, vừa nghe bẩn thỉu, thô lậu, mất vệ sinh thế nào, như cái thời hiện đại:
“ Lấy ca pốt bọc cặc trai!
Tha hồ đụ chắc (*) có ai phê bình”. (*) (Đéo nhau)
Còn dịch “Thái Sơn tay nhấc nhẹ như lông hồng!” không ăn nhập gì với câu thơ của Đặng Trần Côn. Dịch nghĩa sai, dịch thơ hỏng. “Trịch” - là đặt, gieo, ném, quăng, hất, để, giằn… Sao lại dịch là “tay nhấc”?... Xin xem thêm (**)
Vương Trọng dịch nghĩa, dịch thơ sai quá nhiều như thế, mà dịch thơ rất yếu, câu thơ lục bát lỗi vần, ép vần nhan nhản, hồn thơ nhạt nhẽo, sơ sài như nói vo, thử hỏi còn gì Chinh Phụ ngâm!
Dẫn chứng thêm: - Vương Trọng không hiểu thấu Chinh phụ ngâm, nên dịch sai nghĩa, từ đó dịch thơ hỏng. Chất lượng bản dịch nghĩa, dịch thơ rất kém cả về ý lẫn lời:
      
Thiếp tâm tuỳ quân tự minh nguyệt
      
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn
      
Trịch ly bôi hề vũ Long Tuyền
      
Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệt
      
Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan
      
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện
 穿     
Quân xuyên trang phục hồng như hà
      
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết
Vương Trọng dịch thơ:
“Bước đi níu áo chẳng rời
Theo chàng lòng thiếp sáng ngời vầng trăng
Lòng chàng chiến trận dõi trông
Buông ly rượu tiễn gươm vung múa rền
Chỉ hang hổ giáo vung lên
Trông như Giới Tử bắt liền Lâu Lan
Như Mã Viện ở khe Man
Ngựa chàng tuyết trắng, áo chàng ráng pha”.
Chữ nghĩa rất kém. Hai chữ “vung” trong hai câu lục bát liền nhau là rất kỵ: “gươm vung múa rền”, “giáo vung lên”, “sáng ngời vầng trăng”, “lòng chàng chiến trận dõi trông”, lại còn múa rền, lại còn “Trông như Giới Tử bắt liền Lâu Lan. Như Mã Viện ở khe Man””
… 
      
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện (Phấn chấn hành quân theo lối đến Man Khê giết giặc luận bàn chuyện danh tướng Mã Viện, )
Vương Trọng dịch như trên, nghe sến, cải lương như khẩu hiệu của các gã thôn trưởng hô hào dân đen nộp thuế ruộng, thua vè mấy mụ nhà quê, thua xẩm mấy ông Mán miền núi!. Khí thơ quá tầm thường, nhạt nhẽo:
Đoàn Thị Điểm dịch:
“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
Bản dịch thơ tiếng Pháp:
Traduit en Français
par
Tuần Lý HUỲNH KHẮC DỤNG
…Mon cœur vous poursuit à l'instar de la lune
Tandis que votre esprit voguait vers le Thiên Sơn.
Lâchant le vin d'adieu et dégaînant de suite,
Vous pointâtes la lance vers l'antre des fauves.
Vous suivriez, dîtes-vous, l'exemple de Giới Tử
Pourchassant les Lâu Lan et, quand il s'agirait
D'écraser les Man Khê, ces hordes d'insoumis,
Vous utiliseriez les ruses de Phục Ba.
Votre cuirasse avait la pourpre des nuages
Et l'on eût dit de neige votre blanc coursier…
Đúng một bên là chim phượng hoàng nghìn sắc, một bên con cú chết trôi xù lông, xù cánh!
Rồi còn tiếp tục:
“Chàng đi nắng dãi mưa dồn
Thiếp thì về lại căn buồng đêm qua”
Nên chọn vần “ồn” cho lục bát đạt chuẩn vần “chính”, chứ vần “uồng” cũng chưa phải vần “thông” nói chi đến vần chinh!
“Chàng đi nắng dãi mưa dồn
Thiếp thì về chỗ công đồn đêm qua”
Từ câu thứ 1 đến câu thứ 417, Vương Trọng dịch thơ đã nhạt, dở, kém mà lại đều ép vần, lỗi vần, thất vận một cách trầm trọng. Ngày xưa viết chữ Nôm tiền nhân đọc, viết ép vận như : “đoàng - vàng”, “thành – hình”, “truyền – lên”, “ôi – ai”, “phòng – trình”, “trình – thanh”, , “trường – vàng”, “duyên – xem” còn tha thứ được, như trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng lỗi vận đến nghìn câu như thế. Nay tiếng Việt hiện đại dùng chữ La tinh ghi âm nên các nhà thơ Việt sáng tác thơ lục bát, song thất lục bát hoặc thơ truyền thống, Đường luật nên tuân thủ chặt chẽ vần điệu theo chữ La tinh mới thể hiện tài năng sử dụng tiếng Việt của mình.
Câu mở đầu bản dịch thơ lục bát Chinh phụ ngâm, Vương Trọng đã ép vận:
“Đất trời gió bụi nổi lên
Hồng nhan gánh chịu truân chuyên não nùng”
Phải:
Đất trời gió bui nổi lên
Mà hường gánh chịu truân chên não nùng”
Câu thứ 4 đến câu thứ 6 :
“Trần gian bao chuyện đau lòng ai sinh?
Trăng rung nhịp trống Trường Thành
Cam Tuyền lửa hắt rạng hình ngàn mây”
Nếu đổi “Trăng rung nhịp trống Trường Thình” thì vần điệu ba câu này chỉnh chu biết mấy!
Câu thứ 23 đến câu 27:
“Lấy da ngựa bọc chí trai
Tay nhấc Thái Sơn nhẹ thay lông hồng
Chiến chinh xa chốn khuê phòng
Gió ào cầu Vị, roi vung hành trình
Đầu cầu Vị nước thanh thanh…”
Câu 54, 55:
“Cờ đưa quân tiến mấy bề bóng loang
Trông mây thiếp biết xa chàng”…
Câu 77 đên câu 80:
Bạch thành Hán chiếm sớm nay
Còn vùng Thanh Hải sáng mai Hồ rình
Thấp cao Thanh Hải núi xanh
Suối trong trước núi hiện hình sau cây”…
Câu 99, 80:
“Trăng soi mộ cũ Kỳ Sơn
Bến Phì mộ gió mới than canh trường”…
Câu 103, 104:
“Chinh phụ khi đã lìa đời
Cậy ai tô mặt, cây ai gọi hồn”…
Câu 111, 112:
“Gió thu bãi cỏ từng quen
Tên vèo trước mặt, quan san trăng đầy”…
Câu 139,142:
Nay đào tàn tạ gió đông
Mai gìa nở với phù dung bờ này
Chàng hẹn thiếp đến Lũng Tây
Giữa trưa chẳng thấy bóng ai hút tầm”…
Câu 145, 146:
Chàng hẹn thiếp cầu Hán Dương
Hết ngày nào thấy bóng chàng chàng ơi”…
Quá nhiều lỗi, quá nhiều sai không kể xiêt!...
Câu 395, 399:
Ngang Phiêu Diêu khoản ghi công chiến trường
Ngàn năm bia đá bảng vàng
Vợ con ân hưởng đàng hoàng dài lâu
Thiếp và Tô Phụ khác nhau
Lạc Dương trai giỏi có đâu hơn chàng?”…
Câu 403
Vì chàng dâng chén rượu ngà tận tay
Vì chàng thiếp chải tóc mây
Vì chàng trang điểm mặt mày thêm duyên
Giở khăn lệ cũ chàng xem
Câu 408, 409:
“Thơ sầu chuyển tiếp thơ vui
Thơ ngâm rượu chuốc liên hồi cùng nhau”…
Nên sửa:
“Thơ sầu đổi lại thơ vui
Rượu ngon mới kể ngậm ngùi trước sau”…
Vừa chỉn chu vần điệu , vừa đúng nghĩa nguyên bản:
      
Xướng bất xướng hề Tử lưu thiên
       
Nguyện châm cửu uấn hề xướng song liên
(
 𢝙 𢬭   
𨢇     𨍦  𠳒) - chữ Nôm
Câu vui đổi với câu sầu.
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Bà Điểm dịch thời tiếng Việt chưa phát triển mấy mà vần điệu, ý từ thanh thoát bay bổng, vừa sát nguyên bản , vừa làm nguyên bản hay hơn nhiều; Vương Trọng dịch sau 300 năm, tiếng Việt phát triển đến mức cao chưa từng thầy khi la tinh hóa con chữ, thế mà ý tứ đã kém, sai xa nguyên bản, khi thơ tầm thường, vần điệu lại lỗi, sai trầm trọng. Thật uống công tôi đọc và viết bài phê bình!
Bản dịch nghĩa, dịch thơ Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn của Vương Trọng quá kém lại sai quá nhiều làm hỏng nguyên tác, bôi nhọ tiền nhân như thế này mà Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa làm “Tác phẩm văn học trong nhà trường” thì thật nguy hại cho dân chúng và học sinh, sinh viên vô cùng!
Kẻ phá hoại di tích văn hóa vật thể và phi vật thể đều cấu thành tội phạm. Vương Trọng dịch hỏng Chinh phụ ngâm, Đỗ Trung Lai (dịch phá hỏng Đường thi) đều phải vào vòng lao lý. Những kẻ phá hoại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như hai ông là có tội lớn. Hai ông vì cuồng danh, vì ngộ nhận tài năng của mình mà gây ra tai họa lâu dài cho dân chúng và học sinh, sinh viên!
Hà Nội 2012
Đ – H
(*) In trên 
lethieunhon.com
(**) Tham khảo thơ Lý Bạch
李白
結襪子
燕南壯士吳門豪,
築中置鉛魚隱刀。
感君恩重許君命,
太山一擲輕鴻毛。
KẾT MIỆT TỬ
Yên nam tráng sĩ Ngô môn hào,
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao.
Cảm quân ân trọng hứa quân mệnh,
Thái sơn nhất trịch khinh hồng mao.
DỊCH NGHĨA
Tráng sĩ miền nam nước Yên và hào kiệt đất Ngô
Dấu dao cùn trong đàn trúc, dấu đao trong bụng cá
Cảm ơn vua nên đem tính mạng đền ơn
Gieo núi Thái Sơn nhẹ như lông chim hồng
"Kết miệt tử" là tên một điệu hát cổ, có nghĩa là người đan vớ, ngụ ý là người quyết chí báo ơn.
Trần Trọng San dịch thơ:
Ngô Môn có bậc anh hào,
Lòng đàn bụng cá giấu dao tung hoành.
Đền ơn vua, quyết dâng mình,
Một gieo núi Thái, nhẹ tênh lông hồng.

Khoi Tran Cảm ơn Nhà thơ- Nhà Phê bình Văn hoc Đỗ Hoàng đã chuyển cho TK bài viết khá hay- Khách quan, chính xác khoa học, thể hiện tư duy trí tuệ uyên thâm, sự tìm tòi khám phá công phu để có được bản dịch sát, đúng đặng nhắc nhở mọi dich giả với thơ Đường tiếp cận với Hán Nôm cần hết sức cẩn trọng. Chúc mừng Nhà thơ Đỗ Hoàng "một gương mặt mới mẽ của Viện Hán Nôm Học VN "